ADS 468x60

Hãy sống như hôm nay là ngày cuối cùng.

Luôn nhớ rằng tất cả chỉ là bắt đầu...

Thứ Tư, 13 tháng 4, 2011

Nghề "Pi-a"

Nghề PR
pr, quảng cáo, marketing

Hiện nay các học giả lẫn các chuyên gia PR hàng đầu thế giới đều đang tranh cãi khá dữ dội để trả lời câu hỏi PR xuất hiện từ khi nào

Tôi muốn bắt đầu trang viết bằng việc phản đối chuyện nhiều bạn đang làm nghề PR (Pi-a) bây giờ cứ đề cao nghề của mình bằng cách thuyết đi thuyết lại như con vẹt một "tuyên ngôn" cũng là tựa đề cuốn sách của nhà Ries rằng: Quảng cáo thoái vị, PR lên ngôi!
PR và Quảng cáo
Hãy hình dung rằng, PR hiện như là một "đứa trẻ đang tuổi ăn, tuổi lớn" và chúng ta có thể nhìn thấy sức phát triển của nó hàng ngày hàng tháng. Còn quảng cáo, đã là một "tráng niên", ngày một đằm sâu, chúng ta không thể dễ dàng nhìn thấy tầm ảnh hưởng của nó, vì nó đã có một vị thế cần thiết rồi.Nói một cách dễ hiểu hơn,PR đang vương đến, đang xác lập vị thế mà nó xứng đáng phải có, còn quảng cáo đã đạt đến cái vị trí ấy từ lâu rồi! Hãy công bằng nhìn nhận, quảng cáo có vai trò của quảng cáo, có lợi thế của quảng cáo, còn PR cũng vậy, "anh ta có cái mạnh riêng của anh ta". Và dẫu rằng quảng cáo và PR là "hai anh em ruột" nhưng đó là "hai thể độc lập".

PR và các định nghĩa xung quanh nó

Có một lần, khi phải nói về PR, tôi đã vòng vo nói đến PA (đọc bằng chữ cái tiếng Anh) và nhiều bạn trẻ ngồi nghe đã nhếch mép cười vì nghĩ tôi phát âm nhầm thuật ngữ.

Cho đến tận khi hóa giải bằng cách giải thích rất Việt Nam là PA (Puplic Affair) là tạo những "ép phê truyền thống" với công chúng cũng là một việc quan hệ công chúng - PR (Puplic Relation) thì các bạn này mới nở một nụ cười... đỡ nhạt hơn.

Và cũng lúc ấy, có người hỏi vặn tôi rằng: PR là gì? Tôi đành phải thú thật: Tôi cũng không thể đưa ra một chính kiến để chính bản thân mình có thể hài lòng. Thật là vô lý khi đi bàn về PR mà lại còn hồ hoặc PR là gì. Hãy thứ lỗi cho tôi, nhưng xin thưa: Thế giới cũng đang băn khoăn về điều đó.

Theo tôi được biết, câu hỏi này hiện vẫn đang là vấn đề tốn nhiều giấy mực để định nghĩa chính xác. Nó vẫn còn là một vấn đề gây nhiều tranh cãi, cũng như người ta đang hỏi: Văn hóa là gì?

Tìm hiểu một định nghĩa đầy đủ về PR (Puplic Relation) trong bối cảnh hiện nay là điều khá khó khăn vì theo thống kê chưa đầy đủ hiện nay có đến khoảng 500 định nghĩa khác nhau về PR.

Tổ chức Nghiên cứu và Đào tạo PR Hoa Kỳ (Foundation of PR Research and Education) lại có định nghĩa về PR được tổng hợp từ 472 định nghĩa khác nhau: "PR là một chức năng quản lý giúp thiết lập và duy trì các kênh truyền thông, sự hiểu biết, chấp nhận và hợp tác lẫn nhau giữa một tổ chức với các nhóm công chúng có liên quan.

PR bao gồm việc quản lý sự việc và vấn đề; giúp thông tin cho ban lãnh đạo để đáp ứng kịp thời trước ý kiến công chúng; xác định và nhấn mạnh trách nhiệm của ban lãnh đạo là phục vụ quyền lợi của các nhóm công chúng.

PR giúp ban lãnh đạo bắt kịp và vận dụng hiệu quả các thay đổi, hoạt động như một hệ thống dự báo để đón trước các xu hướng; sử dụng việc nghiên cứu và những kỹ thuật truyền thông hợp lý và có đạo đức làm công cụ chính...".

PR có từ bao giờ?
hững tranh luận kiểu "Tôi là ai" của nghề PR ắt hẳn vẫn chưa dừng bởi PR đang liên tục gặp phải những khó khăn trong việc xác định chính mình. Đây là điều không có gì đáng ngạc nhiên khi mà các chuyên gia còn đang bất đồng ngay cả về điểm khởi thủy của ngành PR cũng như danh xưng cho ngành này thế nào cho phù hợp.

Hiện nay các học giả lẫn các chuyên gia PR hàng đầu thế giới đều đang tranh cãi khá dữ dội để trả lời câu hỏi PR xuất hiện từ khi nào, hình thức PR đầu tiên trên thế giới ra đời đã bao lâu?... Đã có nhiều người trong chúng ta lầm tưởng PR là mới, vừa xuất hiện trong một vài năm qua, hay từ Chiến tranh Thế giới II hoặc cùng lắm là trong thế kỷ này mà thôi.

Những người nghĩ PR gắn liền với nền công nghiệp hóa lâu đời thì cho rằng PR là một "phát minh" của nước Mỹ... PR thật sự là "made in USA". Nhưng giới nghiên cứu châu Á lại cho rằng PR đã xuất hiện từ... 9.000 năm trước ở Trung Quốc, từ thời Xuân Thu Chiến Quốc với đại diện khá rõ ràng là Lã Bất Vi.

Bất chấp những ý kiến trái ngược như thế nào, nhưng văn bản chính thức còn lại khẳng định: cụm từ "Puplic Relation" được sử dụng với ý nghĩa hiện nay bắt đầu từ năm 1897, khi nó xuất hiện trong quyển "Niên giám những bài văn hay của ngành đường sắt" thuộc Hiệp hội ngành Đường sắt Mỹ.

Thành công thực sự của từ này có thể nói là thuộc về Edward L.Berneys, mà ông Irwin Ross gọi là "Cha đẻ của ngành PR"... Bernays chính là người đầu tiên gọi mình là "Chuyên viên tư vấn PR" vào năm 1921. Hai năm sau, ông viết quyển sách đầu tiên về đề tài "Kết tinh quan niệm công chúng", và dạy khóa đầu tiên về PR tại Đại học New York.

Như vậy, thì hãy cứ tạm coi, khởi thủy nghề PR thì đã có từ rất lâu và có nhiều đầu mối phát xuất nhưng nó đã thực sự trưởng thành là vào đầu thế kỷ XX, tại nước Mỹ; khi đó PR đã trở thành cụm từ chính thức, được xem là một nghề và có chương trình đào tạo mang tính học thuật, đồng thời được dự báo sẽ thăng hoa, thực sự trở thành một "nền công nghiệp trí tuệ lớn" trong thế kỷ XXI này.

Chức năng của PR trong doanh nghiệp

Có thể bạn chưa hài lòng với chút ít thông tin ít ỏi, sơ sài về việc trả lời câu hỏi PR có từ bao giờ như trên nhưng chúng ta hãy tạm gác vấn đề này lại để trở về với việc đi tìm sự thống nhất (tạm thời) cho vấn đề PR là gì qua những diễn giải về chức năng, nhiệm vụ... của nó.

Có thể hiểu hoạt động của PR trải rộng trên nhiều lĩnh vực, từ quan hệ đối nội, đối ngoại đến các hoạt động như thương mại và phi thương mại như:

- Phân tích các yếu tố xã hội, kinh tế, chính trị, môi trường nhân văn mà trong đó tổ chức, doanh nghiệp hoạt động, nhằm dự đoán về sự phát triển và cung cấp thông tin cơ bản tư vấn cho lãnh đạo tổ chức, doanh nghiệp đó.

- Tư vấn chiến lược hoạt động, kinh doanh cho lãnh đạo công ty, lãnh đạo tổ chức; tư vấn cho các vị lãnh đạo quan trọng giao tế, phát ngôn...

- Truyền thông liên tục về những chính sách và hoạt động của ban lãnh đạo tổ chức, doanh nghiệp về các sản phẩm, các dịch vụ, các hoạt động đến công chúng liên quan

- Đánh giá kết quả một cách khách quan nhằm học tập những điều đã làm tốt, rút kinh nghiệm, bài học về những điều đã làm sai, những tiến bộ đã đạt được... để lần sau thể hiện được tốt hơn.

- Thiết lập các mối quan hệ với báo chí bằng các hình thức như: tổ chức họp báo, soạn thảo các thông cáo báo chí, thu xếp các buổi phỏng vấn, trả lời trên truyền hình...

- Tham gia và tổ chức các hoạt động từ thiện như: lập quỹ học bổng, tham gia chương trình hiến máu nhân đạo, tài trợ cho các hoạt động thể dục thể thao...

- Tổ chức các sự kiện...

Không những thế, hoạt động PR còn gánh vác một trọng trách nặng nề là phải tổ chức đối phó với hàng loạt các rủi ro luôn có thể xảy ra trong hoạt động, kinh doanh như: kiện tụng, khiếu nại, tranh chấp... đặc biệt là trong những lĩnh vực kinh doanh hết sức nhạy cảm.

PR giúp cho đông đảo công chúng có thêm thông tin về hoạt động của các tổ chức, doanh nghiệp. Chẳng hạn, ngoài hệ thống các phương tiện thông tin đại chúng khác như báo in, phát thanh, truyền hình...

Công chúng có thể thông qua các hoạt động truyền thông trực tiếp của PR để nhận thông tin về các hoạt động truyền thông trực tiếp của PR để nhận thông tin về các hoạt động, dịch vụ, sản phẩm mới của công ty, các chương trình tiếp thị, từ thiện... để tạo cho công chúng những thuận lợi trong việc lựa chọn các sản phẩm, dịch vụ phù hợp và thỏa mãn được nhu cầu ngày càng cao...

Và, như trên đã xác định, kết quả các hoạt động PR về cơ bản phải là những hành vi thực tế của tổ chức và hiệu ứng từ những hành vi đó với công chúng. Vì vậy, trong số các chức danh khác nhau đang được sử dụng dành cho vai trò, chức năng của PR là quản trị truyền thông (hoặc quản trị truyền thông chiến lược), quản trị danh tiếng và quản trị quan hệ. Khi phác họa những chức năng đó, Fraser, Hiệp Hội PR Canada, cho rằng tất cả đều là chức năng của quản trị.

Mục đích của PR

Về mục đích, công tác PR là tạo dựng danh tiếng cho tổ chức. Để đạt được điều này, tổ chức phải thực hiện chế độ chăm sóc khách hàng chu đáo, giao tiếp với các giới hữu quan một cách hiệu quả, cũng như thể hiện trách nhiệm xã hội đối với người lao động, với cộng đồng địa phương và môi trường.

Những mánh lới quảng bá rẻ tiền nhằm đánh lừa công chúng, hoặc những hoạt động giả tạo nhằm che đậy những hoạt động xấu của nhiều tổ chức đã để lại nhiều ấn tượng tiêu cực. Chắc chắn, chúng không có chỗ trống trong một chiến dịch PR hiệu quả. PR hiệu quả thể hiện thông qua việc dự đoán tương lai, chứ không phải là xin lỗi nhân viên và công chúng vì những quyết định sai lầm đã thực hiện.

Như chúng ta đã thống nhất, chức năng của PR là quản trị truyền thống, danh tiếng và quan hệ...; mục đích là tạo dựng một hình ảnh, danh tiếng tốt nhất. Vậy liệu những người làm PR, có thể làm mọi cách, kể cả bóp méo, nói sai sự thật, sử dụng các thủ đoạn không lành mạnh... để đạt được điều này.

Các kinh nghiệm PR trên thế giới cho thấy PR không được pháp tách rời sự thật. Việc sử dụng PR cố tình hay vô ý "bóp méo sự thật" trước sau gì cũng bị công chúng, người tiêu dùng phát hiện. Trong những trường hợp này PR không đem lại hiệu quả tích cực nào mà chỉ làm giảm lòng tin và uy tín của thương hiệu.

Hầu hết các chuyên gia PR đều có nghiệp vụ chuyển tải thông điệp bằng cách khác nhau. Họ có thể dùng ngôn từ hay câu chữ thích hợp, bóng bẩy, hấp dẫn để làm tăng tính tích cực của vấn đề. Tuy nhiên họ không bao giờ nên nói sai sự thật dẫu rằng cấp trên hay khách hàng có yêu cầu họ làm như vậy đi nữa...

Trong khuôn khổ một bài viết nhỏ, tôi chỉ có thể đưa ra những định vị sơ khởi nhất về PR. Và để kết thúc, tôi muốn chia sẻ tâm sự rằng: Hiện nay, có rất nhiều bạn trẻ nhìn nghề PR với một lăng kính màu hồng. Các bạn nghĩ rằng, đó là một nghề nhàn hạ; là nghề (và là người) của công chúng.

Xin thưa, không phải vậy. PR là nghề của những người lao động cả chân tay và trí óc với cường độ cao cùng một áp lực sáng tạo liên tục. Đó là nghề của những người chấp nhận sự lặng lẽ và đứng ngoài vòng hào quang. Người làm PR cũng giống như những người đứng đằng sau sân khấu; trong số đó, có người là đạo diễn nhưng nhiều người kéo phông màn, nhắc vở và thu dọn đạo cụ khi đêm diễn hạ màn...
< Theo TTO >
Đọc thêm »

Thứ Ba, 12 tháng 4, 2011

6 lời khuyên để có một câu chuyện tiếp thị hấp dẫn

lời khuyên,tiếp thị
Tôi thường so sánh những quảng cáo trên TV với những thước phim ngắn và có nhiều điều học hỏi được từ việc làm thế nào để xây dựng và kể được một câu chuyện tiếp thị hay. Thường thì một trong những yếu tố ít được đánh giá nhất là đối thoại, nhờ vào khái niệm công nghệ phim ảnh của “chỉ cho họ thấy, đừng kể gì cả”
Tôi không phải là người hay uống rượu, dù sau một ngày làm việc vất vả thì điều đó đáng lắm chứ. Nhưng vì không thể chịu được mùi rượu bia nên tôi vẫn thường ngập đầu trong công việc bằng một thứ soda đặc sệt dành cho người ăn kiêng!
Tuy nhiên, nếu tinh thần tôi vẫn tiếp tục không tốt hơn, tôi sẽ dùng Reyka Vodka – không hẳn vì nó ngon hay dở hơn vài loại vodka khác, nhưng vì công ty đó có một chiến dịch tiếp thị đặc biệt và một sự kết hợp khéo léo giữa trang web với niềm say mê như nhau, nếu có một chút gì đó kì lạ, phát ngôn viên Iceland nói.
Những đoạn video thương mại cho chiến dịch đã thu hút được 20.000 lượt xem trong 3 tuần đầu sau khi được đăng trên YouTube.
Những trang web video thương mại phối hợp hình ảnh minh họa để phân biệt giữa người phát ngôn của thương hiệu gàn dở với một loạt nguyên bản buồn cười cực kỳ cuồng loạn. Giả dụ, những mẫu đó không dành cho mọi người, nhưng nếu bạn muốn mẫu tiếp thị của mình phải khéo léo, vui nhộn, có phong cách và hiệu quả thì bạn sẽ học nhiều điều từ chiến dịch này.
Lời khuyên đầu tiên: Không giống ai mới tuyệt
Trên website, không giống ai chưa hẳn là hay – nó chỉ là một điều kiện cần. Không có khái niệm nào cho việc kiếm tiền từ các mẫu quảng cáo khó ăn nếu bạn chỉ cứ nói cùng một điều như những người khác nói. Và chắc chắn rằng nếu như bạn không thể nghĩ ra những thứ khác để nói thì tốt hơn nên tìm cách khác để nói về nó.
Dù điều bạn cần nói là gì và nói như thế nào thì khác lạ chính là điều then chốt để tạo ảnh hưởng trên trang web. Và đừng quên lời khuyên của các nhà sản xuất phim thành công nhất ở Hollywood: “Bạn có khó khăn, nhưng  như nhau cả thôi.” Tạo ra những đoạn video thương mại quen thuộc vừa đủ để có thể được chấp nhận, nhưng phải vừa khác lạ để nổi bật.
Để nói về điều này, giám đốc/ nhà sản xuất truyền hình Gary Marshall nói: ”Thật tuyệt khi được là “khác thường”, nhưng hãy chắc rằng cũng có một ai khác giống như bạn”
Lời khuyên thứ 2: Thương hiệu cần cá tính
Một trong nhiều cách để làm khác người là cung cấp cho công ty hay thương hiệu của bạn một cá tính duy nhất, nhưng hãy đảm bảo rằng cá tính này không chỉ tạo ra tiếng vang đối với khán giả mà còn phù hợp đặc điểm có sẵn của công ty bạn.
Bạn có thể lựa chọn, thích hoặc ghét Wal-Mart hay Microsoft, nhưng sẽ không là vấn đề họ làm gì và quảng cáo như thế nào, họ không bao giờ “tuyệt” cả. Điều đó không hẳn là họ.
Bạn không thể không làm mờ cá tính nhưng cũng nên nắm chắc việc bạn không làm người xem lúng túng với một loạt cá tính. McDonald có một nét riêng biệt từ cách đây nhiều năm nhưng nhiều chiến lược quảng cáo được nhắm đến gần đây dường như làm rối lên tính thống nhất của nó.
Bạn không thể làm vài người nào đó vui lòng, và bạn cũng không có thể giới thiệu nhiều nét riêng, người khác sẽ chỉ phớt lờ bạn.
Và nếu chỉ vì doanh thu của một công ty lớn đang đi lên thì không có nghĩa là nó đang làm đúng. Nếu bạn muốn cạnh tranh với ai đó, đừng chiều theo ý những người góp vốn nhiều nhất; họ nằm trong một liên minh hoàn toàn khác – một liên minh vòng tròn có những người trung thành với “tiền bạc” và có thể mua được thành công.
Nếu công ty bạn tương đối nhỏ, bạn sẽ đỡ hơn, bạn sẽ khôn ngoan và sáng tạo.
Reyka Vodka không có nhiều đối thủ cạnh tranh, nhưng chiến lược tiếp thị và những đoạn video của nó trên web gặt hái được nhiều điều như mong đợi.
Lời khuyên thứ 3: Từ ngữ có ý nghĩa
Tôi thường so sánh những quảng cáo trên TV với những thước phim ngắn và có nhiều điều học hỏi được từ việc làm thế nào để xây dựng và kể được một câu chuyện tiếp thị hay. Thường thì một trong những yếu tố ít được đánh giá nhất là đối thoại, nhờ vào khái niệm công nghệ phim ảnh của “chỉ cho họ thấy, đừng kể gì cả”
Trong ngành công nghệ phim ảnh, đó là lời khuyên tốt; thậm chí nó có thể là lời khuyên tốt trong việc làm quảng cáo, nhưng nếu công ty của bạn nhỏ và tài chính eo hẹp thì chỉ mỗi việc “trình bày” cũng có thể làm bạn kiệt quệ.
Với giá cả quay phim từng địa phương, nhiều trang thiết bị và diễn viên, cùng những đạo cụ mắc tiền từ nước ngoài với chương trình cài đặt, thì giá cả leo thang một cách chóng mặt. Điều đó sẽ được đưa vào phần tiền thưởng để giữ mọi thứ đơn giản. Điều đó cũng có nghĩa là nếu bạn tiếp tục với phong cách trình bày “trực diện”, thì hãy chắc rằng điều đó vươn xa và chạm đến khán giả.
Những mẫu quảng cáo Reyka là một điển hình về trình bày trực diện với sự tinh ý và cá tính; và nếu bạn muốn xem điều gì sẽ đánh bật bạn thì hãy xem những mẫu quảng cáo ở Wayspa.com; nhưng nhớ rằng dẫu cho nhiều người sẽ khó chịu nhưng tôi cam đoan rằng bạn sẽ không quên nhanh được.
Một kịch bản xuất sắc được chuyển tải bởi một diễn viên chuyên nghiệp có ảnh hưởng lớn hơn và chi phí ít hơn phương pháp trình bày video. Một đoạn hội thoại hay thì thu hút được sự chú ý, liên kết được âm thanh và tâm trạng, sẽ giúp cho nhận thức của khán giả nắm bắt được sản phẩm hay loại hình phục vụ của bạn. Nó cũng trình bày được một cá tính rõ ràng với sắc thái và ẩn ý, liên kết cùng thúc đẩy, và hoạt động ở phạm vi nào đó của toàn cảnh bất mãn bên trong.
Lời khuyên thứ 4: Nói theo cách của bạn
tiếp thị,nói chuyện

Không ai muốn xem một bộ phim, một chương trình TV hay một mẫu quảng cáo với cuộc đối thoại như người ta thường nói với nhau. Nếu bạn đã từng ngồi ở một nhà hàng đông đúc và nghe thấy cuộc nói chuyện của bàn kế bên, bạn hiểu tôi đang nói điều gì.
Những cuộc nói chuyện ngoài đời như vậy thường rất hỗn tạp, người ta thường hay ngắt lời người khác, họ thường bàn bạc với nhau, và họ cũng hay nói nhanh theo kiểu tốc ký mà người ngoài khó theo kịp. Họ cũng thường dùng những từ kéo dài (à, ừm, ờ…) để có thêm thời gian suy nghĩ và tránh những lúc khoảng lặng không mấy thoải mái; họ trò chuyện rất nhiều và diễn đạt khá ít. Thật ra, họ đang chán.
Và dĩ nhiên, viết được một bản thảo thương mại hiệu quả và có ý nghĩa không giống như việc viết một lá thư kinh doanh hay một tập sách quảng cáo (brochure copy). Bạn không thể giới thiệu một loạt ý nhỏ được chuyển tải bởi chủ tịch công ty, cũng giống như người mà dường như lúc nào cũng quên lấy cái móc ra khỏi áo trước khi mặc vào.
Kịch bản thương mại là những cuộc trò chuyện với khán giả, được thiết kế để chuyển tải hết ý nghĩa, tinh thần, và cá tính mà một công ty phải cung cấp không chỉ dựa vào một câu trả lời từ sự thật, nét đặc trưng và  những lợi ích đoán chừng.
Lời khuyên thứ 5: Thông điệp đơn giản
Những mẫu quảng cáo tuyệt nhất luôn đơn giản nhất, chúng dễ hiểu và dễ nhớ nhất. Những đoạn quảng cáo bằng video trên website tràn ngập sự kiện và tính đặc trưng cũng như nhiều lợi nhuận làm lu mờ những âm thanh chớp nhoáng, ngay sau đó là những thứ có thể quên trong trường hợp tốt nhất và kích thích rồi phản tác dụng trong tình huống tệ nhất. Khán giả, quan trọng là quan tâm như thế nào, thường sẽ mải mê với một ý nghĩ chắc chắn duy nhất từ thông điệp tiếp thị.
Với Geico thì “nó quá dễ dàng để người thượng cổ có thể làm được”, được chuyển tải bằng cá tính hiện rõ ràng quen thuộc để tạo ra thông điệp dễ nhớ và người phát ngôn dễ dàng thuật lại. So với những quảng cáo hoạt hình Esurance, nơi thông điệp chuốc lấy thất bại trong quá trình trình bày đã làm choáng váng những việc không ra đâu.
Lời khuyên thứ 6: Tạo cho sứ giả đáng tin cậy
Ai đó phải chuyển tải cuộc hội thoại của bạn dù đó là diễn viên trên phim hay giọng nói ngoài đời. Bạn có thể nhân hoá người đưa tin của bạn bao nhiêu thì khán giả sẽ càng liên hệ đến người đó bấy nhiêu. Tất cả chúng tôi vừa gặp gỡ nhiều người như người thượng cổ ở quảng cáo Geico, nhưng khá khó khăn bán bảo hiểm khi liên hệ tới vị anh hùng phim hoạt hình Esurance  Quý bà Reyka Vodka thì kì lạ và vui tính trong khi các nhân vật của quảng cáo trên Wayspa.com thì giống với học sinh.
Tất cả những nhân vật này rất giống người ngoài đời, tất cả đều mang đến những ý kiến ngắn gọn thật khéo léo, có tính giải trí và những thông điệp đáng ghi nhớ. Hãy tạo ra các thông điệp đơn giản và sứ giả cũng dễ hiểu.
Kết thúc
Thỉnh thoảng điều khó nhất lại hoá ra là đơn giản. Trong công nghệ làm phim, có cái người ta gọi là “khái niệm dữ dội”, một dòng để miêu tả: những người sản xuất kể rằng họ cần biết về phim ảnh để nắm bắt được nó nói cái gì. Nếu bạn xem cách tạo ra một chiến dịch web-video cho công ty bạn, hãy bắt đầu với “khái niệm dữ dội” và phát triển nó đến hết bài học hữu ích này để biết được điều tốt nhất.
< Theo Bansacthuonghieu >
Đọc thêm »

Thứ Bảy, 9 tháng 4, 2011

Quảng cáo đi trên phố

Quảng cáo trên xe buýt đang tỏ ra là một trong những kênh quảng cáo ngoài trời hiệu quả nhất.


quảng cáo bao quanh,ambient mảketing, xe bus
Quảng cáo ngoài trời, quảng cáo di động

Theo định nghĩa của Bách khoa toàn thư mở Wikipedia thì quảng cáo ngoài trời “Out Of Home” (OOH) là tất cả các loại hình quảng cáo tác động đến người tiêu dùng, khi họ bước ra khỏi ngôi nhà mà họ đang sinh sống.
 
Trước đây, mọi người chỉ hiểu đơn thuần quảng cáo ngoài trời là những tấm bảng quảng cáo được dựng tại các nơi công cộng, có đông người qua lại. Quan niệm đó đúng, nhưng chưa đủ, bởi lẽ quảng cáo ngoài trời còn có rất nhiều các hình khác nhau. Theo đó, quảng cáo ngoài trời được phân ra gồm 4 loại chính thức: billboard, street furniture, transitPOSM.

Trước tiên nói đến billboard - tên gọi chung cho tất cả các loại hình quảng cáo đặt ở tầm cao, ví dụ như trên nóc và tường các tòa nhà, các loại hình được dựng độc lập , rất kiên cố và thường sử dụng các kỹ thuật mới nhất… Trung bình, giá để có một billboard quảng cáo khoảng 30.000 USD/năm.

Những công ty quảng cáo ngoài trời thường có “đất” cố định và việc khai thác “đất mới” rất khó khăn. Trong khi đó các sản phẩm làm thương hiệu ngày càng nhiều, nên đối với loại hình này, lượng cầu bao giờ cũng lớn hơn lượng cung.

Theo chị Phương Thảo thuộc Công ty Đất Việt thì street furniture là tên gọi dành cho tất cả các loại hình quảng cáo đặt ở tầm thấp , dọc trên đường như nhà chờ xe buýt, ki ốt, bốt điện thoại… Trong đó, quảng cáo tại các nhà chờ xe buýt và ki ốt được khách hàng ưa chuộng nhất. Giá quảng cáo ở một nhà chờ xe buýt trung bình là 7.000 USD/1 năm.

Transit là các loại hình quảng cáo ngoài trời di động như quảng cáo trên xe buýt, taxi, xe lửa, tàu phà... Những thương hiệu lớn đã đặt quảng cáo trên xe buýt tại Việt Nam là Coca-Cola, LaVie, Kinh Đô, Motorola, Neptune, ACB Bank, Red Bull, Orient… Giá mua quảng cáo trên một chiếc xe buýt loại lớn khoảng 3.000 USD/năm và trên chiếc xe buýt loại trung khoảng 2.500 USD /năm.

Đối tượng khách hàng sử dụng hình thức quảng cáo này thường có các sản phẩm gắn bó với người tiêu dùng hàng ngày, như dầu ăn, nước suối hay dầu gội đầu… Quảng cáo trên xe buýt cũng thuộc vào loại tầm thấp, nó có thể đập ngay vào mắt người tiêu dùng, mà không phải ngước nhìn như là quảng cáo trên các billboard ở trên cao.

Còn về POSM (Points of Sales Material) là tất cả các vật liệu phụ trợ trực quan và trưng bày, đặt tại nơi bán hàng, khu vui chơi, công viên, nhà hát…

Mới đây, chương trình khảo sát chỉ số hài lòng của người dân Viện Kinh tế Tp.HCM đã làm một cuộc thăm dò ý kiến các tầng lớp nhân dân vế mức độ hài lòng đối với các dịch vụ hành chính công, trong đó, xe buýt là một trong những dịch vụ công được người dân hài lòng nhất.

Tại Việt Nam, với chủ trương phát triển mạng lưới giao thông công cộng phục vụ nhân dân của chính phủ, đặc biệt với chủ trương trợ giá xe buýt (với hàng ngàn tỉ đồng/năm) song hành với hàng loạt lớp tập huấn đào tạo lại đôi ngũ lái xe, phụ lái và tiếp viên, xe buýt đã và đang dần trở nên hấp dẫn hành khách hơn. Hiện tại chỉ ở hai thành phố lớn là Hà Nội và Tp.HCM, đã có hơn 4.000 xe đang hoạt động phục vụ cho hàng triệu lượt hành khách mỗi ngày.

Tại các nước trên thế giới, quảng cáo trên xe buýt rất phát triển với nhiều hình thức xóa bỏ hình ảnh đơn điệu, đem lại lợi ích thiết thực về mỹ quan và thông tin sản phẩm rất tiện nghi cho người tiêu dùng vì sự hiện diện thường xuyên của nó ngay tầm mắt và di chuyển khắp mọi nơi. Các sáng tạo rất ngộ nghĩnh và lạ mắt làm dịu đi sự căng thẳng khi tham gia giao thông.

Ngay sau khi Hà Nội cho phép loại hình quảng cáo trên xe buýt được phép hoạt động trở lại vào năm 2007, nhiều chiếc xe buýt đã được thiết kế nhiều hình ảnh đẹp mắt của các nhãn hàng như Coca-Cola, LaVie, Kinh Đô, Motorola, Neptune, ACB, Bank, Red Bull, Orient… chạy khắp các đường phố và gây được sự chú ý của người tiêu dùng.

Theo nhiều người dân địa phương, hình ảnh của những nhãn hàng quảng cáo đã làm cho chiếc xe buýt trở nên sống động, không còn đơn điệu như trước nữa và không thể không đập vào mắt của họ mỗi khi bước ra đường dù họ có đi xe buýt hay không.

Theo đánh giá của những chuyên gia quảng cáo đầu ngành, “buýt quảng cáo” là một phương tiện truyền thông đại chúng thật sự hiệu quả, khi đối tượng nhìn thấy nó có thể nói là hầu hết những người dân Hà thành.

Hãy thử làm một phân tích nhỏ:

Trước hết, các tuyến xe buýt được quy hoạch ở các tuyến giao thông quan trọng nhất của thành phố, sao cho việc phục vụ sự đi lại của mọi người tối ưu nhất. Buýt có mặt khắp mọi nơi mọi người đi làm, vui chơi, mua sắm…

Thứ hai, thời gian hiện diện ngoài đường của mỗi xe là hơn 15 giờ mỗi ngày , và tại Hà Nội và Tp.HCM cứ trung bình cứ 5 phút có một chuyến xuất phát, ở các bến

Thứ ba, các hình ảnh được thiết kế ở hai bên hông xe, ngay tầm mắt người đi đường, bất kể là họ đang đi trong ô tô, xe máy, hay đi bộ.

  < Theo Thời Báo Kinh Tế Việt Nam >
Đọc thêm »

Thứ Sáu, 8 tháng 4, 2011

Đồng hồ Rolex - biểu tượng của giới thượng lưu


rolex,đồng hồ
Có mặt trên thị trường vào năm 1945, đồng hồ Rolex Oyster Datejust có giờ tự động đầu tiên trở thành biểu tượng của giới thượng lưu. Hầu hết các sản phẩm của Rolex được làm bằng tay để đảm bảo việc kiểm soát chất lượng.


Vào năm 1914, ngay khi Hoàng tử Ferdinand nước Áo nổ phát súng, đẩy cả thế giới vào cuộc chiến tranh đẫm máu nhất trong lịch sử thì Hans Wilsdorf người xứ Bavaria đã thành lập công ty đồng hồ Rolex ở London. Lúc đó, Hans Wilsdorf quyết định gửi sản phẩm của mình sang Đài thiên văn Thụy Sỹ để thử nghiệm và kiểm định tính chính xác của những chiếc đồng hồ Rolex.

Đây được xem là một quyết định đúng vì sau đó Rolex đã trở thành thương hiệu đồng hồ đeo tay đầu tiên trên thế giới có được chứng nhận về tính chính xác. Và cũng thật đúng lúc - Thế chiến thứ I bùng nổ, các binh lính đều cần đến một cái đồng hồ đeo tay hoạt động chính xác bởi chúng tiện lợi hơn hẳn loại đồng hồ bỏ túi khi hoạt động trong các chiến hào.

Wilsdorf nhận ra rằng sự chính xác chính là giá trị thương hiệu trọng yếu của mình nên luôn quảng bá về đặc tính này vào bất cứ lúc nào có thể. Khi Mercedes Gleitze quyết định sẽ trở thành người phụ nữ đầu tiên bơi qua eo biển Manche vào năm 1926, Wilsdorf lập tức tặng cho cô này một cái đồng hồ kiểu mới nhất hiệu Rolex Oyster, để giúp cô theo dõi thời gian trong khi vượt biển. Sự kiện này đã tạo nên tính công luận quý giá cho một thương hiệu đang trên đà phát triển.

Nếu tính chính xác là một mấu chốt thành công của Rolex, thì sáng tạo đột phá là mấu chốt thứ hai. Năm 1931, Rolex đăng ký bản quyền chiếc đồng hồ lên giây vĩnh cữu đầu tiên, có nghĩa là bộ phận lên giây bên hông đồng hồ không còn cần thiết nữa. Năm 1945, nó trở thành chiếc đồng hồ đầu tiên có cửa sổ ghi nhận ngày tháng. Sau đó, công ty này còn tạo nên những đột phá khác như: chiếc đồng hồ lặn đầu tiên, chiếc đồng hồ ghi nhận cùng lúc hai múi giờ khác nhau đầu tiên…

Chính những phát minh trên cùng với sự phát triển khá thành công của Rolex đã khiến cho người ta xem lịch sử của thương hiệu này chính là lịch sử của ngành công nghiệp đồng hồ. Chiếc đồng hồ Rolex Oyster đã được kiểm tra kỹ càng bởi những gương mặt tiêu biểu của ngành công nghiệp đồng hồ và đạt được danh hiệu "Chiếc đồng hồ của Thế kỷ".

Thành công của Rolex không chỉ dựa vào sự phối hợp giữa chất lượng và tính sáng tạo mà còn có một yếu tố quan trọng khác nữa là marketing. Với một thương hiệu luôn được thật sự thèm muốn thì cầu phải luôn luôn vượt quá cung.

Trên khắp thế giới, đâu đâu cũng có những cửa hàng bán lẻ đồng hồ Rolex. Nhưng qua năm tháng, Rolex dần giảm bớt số lượng những đại lý bán lẻ đồng hồ của mình. Không như những thương hiệu khác luôn muốn mở rộng kênh phân phối của họ càng lúc càng rộng lớn hơn, Rolex đi theo con đường ngược lại. Khi không có bao nhiêu đại lý có bán đồng hồ Rolex thì hệ quả là cầu tự động tăng lên và hình tượng danh vị của Rolex ngày càng được củng cố vững chắc.

Người ta không đeo một chiếc Rolex chỉ vì sự chính xác của nó. Họ đeo Rolex để khẳng định chính mình và vị trí xã hội của mình. Đó là một chiếc Porsche có thể luôn mang theo trên tay và cũng chứng tỏ những giá trị tương đương như vậy.

Mua Rolex còn là một quyết định đầu tư không bao giờ lỗ vốn. Tính bền bỉ và sự ưa chuộng rộng khắp đã đảm bảo rằng đây là một chiếc đồng hồ dễ bán lại nhất trên thế giới. Với một thương hiệu có thể cho bạn biết thời gian chính xác đến từng giây một, thật đáng ngạc nhiên là Rolex lại có một tính cách thương hiệu vượt thời gian. Bởi chính những mối liên hệ gần gũi với lịch sử của đồng hồ, thương hiệu Rolex sẽ vẫn còn mãi đó cho đến khi chúng ta không còn muốn nhìn vào cổ tay để xem giờ nữa.

Bí quyết thành công:

  • Chất lượng. Rolex đã hoàn toàn tập trung vào chất lượng ngay từ chính sản phẩm đeo tay đầu tiên của mình vào năm 1908. Họ khẳng định chất lượng bằng cách gởi những chiếc đồng hồ của mình đến Đài thiên văn Thụy Sỹ để được kiểm nghiệm và xác nhận tính chính xác.

  • Phân phối. Thương hiệu này kích cầu bằng cách giới hạn kênh phân phối. Chỉ có một số nhà bán lẻ nào đó mới có quyền bán đồng hồ Rolex.

  • Mối quan hệ với lịch sử. Rolex không tự phát minh ra đồng hồ đeo tay nhưng đó chính là thương hiệu đầu tiên đã phổ biến rộng rãi loại đồng hồ này. Công ty này còn gắn liền với những phát minh quan trọng trong lịch sử đồng hồ đeo tay, ví như loại đồng hồ lên giây vĩnh cửu.

  < Theo Vnexpress >
Đọc thêm »

Nghiên cứu marketing: thận trọng với thông tin sơ cấp

marketing,thông tin
Những người làm marketing thường gặp phải tình huống khi mà những thông tin cần thiết không thể có được từ việc nghiên cứu thứ cấp hay từ các thông tin sẵn có trên thị trường. Khi đó, công ty sẽ phải tự mình tiến hành việc thu thập thông tin sơ cấp. Cho dù mục đích của việc nghiên cứu là thăm dò hay thực nghiệm thì quyết định tiến hành nghiên cứu sơ cấp cũng phải được đưa ra một cách thận trọng, vì việc này sẽ làm tiêu tốn nhiều thời gian cũng như chi phí.


Hơn nữa, nếu như việc thu thập thông tin không được tiến hành một cách đúng đắn, kết quả thu được có thể sẽ không mang lại những thông tin mong muốn cần thiết, hoặc có thể tiêu tốn nhiều chi phí hơn giá trị thực của nó. 
 
Quyết định tiến hành nghiên cứu sơ cấpViệc thiếu thông tin không phải là một lý do đủ để quyết định tiến hành nghiên cứu sơ cấp. Thu thập thông tin sơ cấp chỉ là cần thiết khi mà thông tin thu được mang tính thực tiễn cao và đáng giá so với chi phí bỏ ra.Kết quả mang tính thực tiễn cao có ảnh hưởng đến quyết định của người lãnh đạo. Để xem xét tính thực tiễn của thông tin, cần phải đặt ra các câu hỏi như: Vì sao thông tin đó lại quan trọng? Có thể làm được điều gì khác khi có những thông tin đó? Quyết định sẽ thay đổi như thế nào phụ thuộc vào từng kết quả thu thập được?Ngay cả khi thông tin thu thập được mang tính thực tiễn cao, điều này cũng không đảm bảo cho việc tiến hành nghiên cứu sơ cấp. Giá trị thực của thông tin có được phải vượt qua chi phí thu nhập.  
 
Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp

Về cơ bản có hai phương pháp thu thập thông tin: điều tra trực tiếp hoặc quan sát. Việc điều tra trực tiếp được sử dụng thường xuyên hơn, tuy nhiên trong vài trường hợp, phương pháp quan sát cũng được sử dụng.
 
      Phương pháp quan sát

Phương pháp này bao gồm việc ghi lại thông tin không phụ thuộc vào câu trả lời hay trí nhớ của đối tượng nghiên cứu. Ví dụ gắn thiết bị đếm vào tivi để dự đoán số lượng người xem tivi, hay có một người nào đó đóng giả khách hàng đến phàn nàn để theo dõi phản ứng của người bán hàng.Lý do sử dụng phương pháp quan sátPhương pháp này được sử dụng trong trường hợp đối tượng nghiên cứu từ chối trả lời, ví dụ như đối với những câu hỏi mang tính chất riêng tư, cá nhân. Việc quan sát cũng phù hợp khi đối tượng nghiên cứu có xu hướng trả lời sai sự thật khi được hỏi trực tiếp. Ví dụ như khi được hỏi đóng góp cho từ thiện bao nhiêu tiền, mọi người thường nói cao hơn số tiền thực tế.Thường chúng ta cũng sẽ thu được những câu trả lời thiếu chính xác khi hỏi về những vấn đề không quan trọng đối với người được hỏi. Trong trường hợp này, đối tượng nghiên cứu không cố tình trả lời sai mà chỉ là họ không biết, hoặc không nhớ được thông tin chính xác liên quan đến vấn đề đó. Ví dụ như thường lệ mọi người sẽ không nhớ được lần gần đây nhất họ mua xăng hết bao tiền và họ mua mấy lít xăng. Phương pháp quan sát trong tình huống này sẽ đưa ra được những câu trả lời chính xác hơn. Ngoài ra, phương pháp quan sát còn được sử dụng với những nhóm đối tượng như trẻ nhỏ.Theo phương pháp này thì thông tin thu thập được nhờ việc quan sát. Vì vậy, không thể ghi nhận được những yếu tố như thái độ hoặc lý do cho hành vi của người tiêu dùng. Ngoài ra, để đảm bảo tính thực tiễn và giảm chi phí, việc quan sát cần phải đáp ứng hai yêu cầu. Thứ nhất, tình huống diễn ra hành vi để quan sát phải diễn ra thường xuyên theo một chu kỳ có thể đoán trước được. Thứ hai, thời gian cần thiết để tiến hành quan sát chỉ trong một khoảng thời gian ngắn.

Có nhiều phương pháp tiến hành quan sát khác nhau: (1) việc quan sát do người hay do máy thực hiện, (2) hành vi được quan sát diễn ra một cách tự nhiên hay cưỡng bức, (3) đối tượng nghiên cứu có biết việc mình bị quan sát hay không, (4) việc quan sát diễn ra bằng việc quan sát trực tiếp hành vi hay thông qua việc đọc tài liệu ghi lại những hành vi đó.
    
      Phương pháp điều tra trực tiếp

Như tên của phương pháp này, thông tin được thu thập bằng việc hỏi trực tiếp đối tượng nghiên cứu. Phương pháp này bao gồm ba hình thức chính: phỏng vấn trực tiếp, phỏng vấn qua điện thoại, hoặc trả lời bản câu hỏi nghiên cứu. Bảng biểu dưới đây so sánh các hình thức khác nhau của phương pháp điều tra trực tiếp. Có thể thấy rằng có hình thức nào thực sự nổi trội hơn hình thức khác. Hình thức được sử dụng sẽ tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu, loại hình câu hỏi và các yếu tố về thời gian, chi phí và nhân viên thực hiện.
   
       Phương pháp hỗn hợp

Các doanh nghiệp thường tìm nhiều cách khác nhau để thu thập thông tin một cách hiệu quả nhất, giảm tỷ lệ không trả lời và giảm chi phí. Kết quả không chỉ là tiến hành thu thập thông tin qua fax hoặc internet mà còn tìm ra phương pháp hỗn hợp, nghĩa là kết hợp các hình thức điều tra trực tiếp với nhau trong cùng một nghiên cứu. Phương pháp thường được sử dụng nhiều nhất là kết hợp điều tra qua điện thoại với điều tra qua thư, điều tra qua điện thoại và cung cấp đĩa liên qua đến vấn đề nghiên cứu, điều tra qua điện thoại và qua fax. Trong trường hợp này, thường thì người tham dữ sẽ được lựa chọn qua điện thoại, do hình thức này có tỉ lệ người đồng ý điều tra lớn nhất. Tiếp đó, bản câu hỏi sẽ được gửi qua thư (in trên giấy hoặc ghi trên đĩa), hoặc bằng fax vì những hình thức này sẽ có chi phí thấp nhất. Việc sử dụng phương pháp hỗn hợp này sẽ phát triển trong tương lai. 

< Theo Nhà Quản Lý >
Đọc thêm »

Thứ Năm, 7 tháng 4, 2011

Kinh nghiệm đưa sản phẩm mới ra thị trường

Nhờ đổi mới và sáng tạo, cả trong phương thức kinh doanh lẫn sản xuất, một số doanh nghiệp đã vươn lên dẫn đầu thị trường, số khác thì tăng doanh thu cả trong thời điểm khủng hoảng. Vậy doanh nghiệp cần làm gì để thành công trong việc đưa sản phẩm mới ra thị trường?

Tìm hiểu nhu cầu thị trường

Ông Phạm Phú Ngọc Trai, Chủ tịch Công ty Tư vấn kinh doanh hội nhập toàn cầu (GIBC), nhớ lại thời kỳ ở Tribeco. Hồi đó, ông đã phải mày mò tìm hiểu thị trường khi trong đầu chưa hề có các khái niệm về quảng cáo, tiếp thị hay nghiên cứu thị trường. Việc sáng tạo, đổi mới ngày nay có hẳn các quy trình, hệ thống, cùng các phòng ban chức năng, còn hồi đó đơn giản chỉ là cảm nhận tự phát về một nhu cầu thay đổi của người tiêu dùng, tăng doanh số cho công ty.

Tự tay ông thiết kế kiểu dáng và dung tích chai nước ngọt Tribeco, dán nhãn vào chai, sau đó đến các quán giải khát để tìm hiểu về nhu cầu của người tiêu dùng. Từ thành công của Tribeco lúc đó, cùng với những năm tháng ở PepsiCo sau này, ông nghiệm ra một điều: trong tổ chức của một doanh nghiệp, lãnh đạo phải là người dẫn dắt sự đổi mới, và phải theo một quy trình, hệ thống, chứ không nên là các bước nhảy vọt.

Còn đối với ông Trần Kim Thành, Chủ tịch HĐQT Công ty Kinh Đô, thành công đến từ một sự quan sát đơn giản: các ông bố bà mẹ thường không đủ thời gian để lo bữa sáng cho con trước khi đi học. Từ đó ông đã nhìn thấy một thị trường đầy tiềm năng cho mặt hàng bánh mì. Cái khó là ở chỗ Kinh Đô muốn sản xuất loại bánh mì có thời hạn sử dụng trong bảy ngày, trong khi người tiêu dùng lại quen dùng loại bánh mì nóng mới ra lò. Trải qua nhiều cuộc nghiên cứu, thử nghiệm, với đội ngũ bán hàng, cộng tác viên tỏa ra các chợ, trường học trực tiếp bán sản phẩm, công ty đã thành công. Hiện công ty đưa ra thị trường gần 2 triệu chiếc bánh mì/ngày.

Hiện nay, nhiều công ty đã có những mô hình quản trị doanh nghiệp hiện đại, theo các chức năng, với đầy đủ phòng ban. Vì thế việc thiết kế, nghiên cứu thị trường, tiếp thị để đưa sản phẩm mới ra thị trường đã trở nên chuyên nghiệp hơn. Vấn đề còn lại là cần xây dựng một chiến lược, một tầm nhìn, một nét văn hóa trong doanh nghiệp để thúc đẩy sự đổi mới và sáng tạo.
cần xây dựng một chiến lược, một tầm nhìn, một nét văn hóa trong doanh nghiệp để thúc đẩy sự đổi mới và sáng tạo.
Kinh nghiệm,sản phẩm mới, thị trường,marketing,quảng cáo
cần xây dựng một chiến lược, một tầm nhìn, một nét văn hóa trong doanh nghiệp để thúc đẩy sự đổi mới và sáng tạo.

Khi tung ra một sản phẩm mới, theo ông Trai, điều cần thiết là phải nghiên cứu thị trường, hoặc có thể thực hiện những khảo sát nhỏ trong khả năng của doanh nghiệp, hay có thể nhờ các công ty dịch vụ chuyên nghiệp. Đây chính là cách tiếp cận thị trường của các thương hiệu lớn trên thế giới, khi có sự thay đổi trong kinh doanh lẫn sản phẩm.

Để biết phản ứng của người tiêu dùng, khi tung ra một sản phẩm mới, ông Thành yêu cầu tất cả các phòng ban của Kinh Đô "đi thị trường để biết người ta chê mình như thế nào, chứ không thể cứ ngồi ở nhà và chờ đợi doanh số cao được".

Khơi gợi sáng tạo và đổi mới

Khi tung sản phẩm mới ra thị trường, có không ít thành công, nhưng cũng lắm thất bại. Thống kê cho thấy tỷ lệ thất bại trong sản phẩm mới ở các công ty đa quốc gia nhiều hơn các công ty nhỏ. Ở các công ty lớn, tỷ lệ thất bại là 60-70%. "Chẳng hạn tại PepsiCo Việt Nam nếu đạt tỷ lệ 50-50 là giỏi lắm rồi, còn thông thường là 70-30", ông Trai cho biết.

Chính vì tỷ lệ thành công không nhiều, nên đó cũng chính là sức ỳ tâm lý cản trở sự đổi mới, sáng tạo. Nói như ông Trịnh Chí Cường, Tổng giám đốc Công ty Nhựa Đại Đồng Tiến, các công ty hiện nay hoạt động theo cấu trúc chức năng, từng bộ phận đều có công việc hàng ngày, vì thế khi yêu cầu sáng tạo hay làm một cái gì đó khác so với công việc hàng ngày thì mọi người có xu hướng phản kháng. "Nhân viên nhận lương thưởng từ những đánh giá dựa trên việc thực hiện công việc hàng ngày. Kinh doanh thì chạy theo doanh số, mà việc bán sản phẩm hiện có dễ hơn so với sản phẩm mới. Vậy thì làm sao đưa vào một cái mới, sáng tạo được?".

Ông Trai lý giải mục đích của đổi mới là tăng trưởng, và phải có đầu tư. Mà đầu tư thì có rủi ro, nhưng không vì thế mà thiếu sản phẩm mới. Nhiều doanh nghiệp vẫn lo ngại chuyện đổi mới, khi doanh nghiệp đang "rất ổn định". Tuy nhiên sự ổn định hiện tại chỉ là ngắn hạn.

"Lãnh đạo doanh nghiệp cần có cái nhìn toàn cảnh từ 3-5 năm sau. Nếu chờ đến năm sau mới có sản phẩm mới, có khi là quá trễ, vì lúc đó đã có người làm thay mình rồi. Vì thế người lãnh đạo phải có tư duy chiến lược, làm ngày hôm nay yên tâm nhưng cần nhìn đến ngày mai", ông Trai nói.

Ông cho rằng, để phát triển, doanh nghiệp không thể chỉ dừng ở sản phẩm truyền thống, chủ lực hiện thời, mà phải liên tục cho ra đời các sản phẩm mới, đó là các sản phẩm "cần phải có". Nếu không có sản phẩm mới, đối thủ sẽ "làm giùm" công việc đó. Chính những sản phẩm mới sẽ giúp những sản phẩm truyền thống, sản phẩm chủ lực tăng trưởng. Ông Trai lấy ví dụ, nước ngọt là sản phẩm chính của hãng PepsiCo, nhưng sản phẩm này hiện chỉ chiếm khoảng 10% trong tổng doanh số và sản lượng, 90% còn lại là từ các sản phẩm khác.

Có những doanh nghiệp thực hiện chính sách "trảm quân, trảm tướng" khi thất bại. Điều đó khiến những người sáng tạo nhụt chí. Ông Thành cho rằng thất bại với những sản phẩm tiên phong, đón đầu là điều không tránh khỏi. Quan trọng là phải học được những gì từ thất bại đó. "Chúng tôi coi thất bại như việc trả học phí, chứ không mất hết. Đó là bài học để mình hoàn thiện hơn. Đừng trả học phí một cách khơi khơi rồi không học được gì hết", ông Thành nói.

Cũng vì thế, ở Kinh Đô, khi các phòng ban trình bày ý kiến, ông nhất mực yêu cầu "phải có ý tưởng mới, không mới thì không nghe". Bên cạnh đó, trước khi đưa ra sản phẩm mới, họ còn phải xác định được đối thủ cạnh tranh, từng mặt hàng, ngành hàng, phân tích chi tiết, để khi đưa ra thị trường, sản phẩm mới sẽ áp đảo thị trường.

"Như bánh trung thu chẳng hạn, ngay từ thời điểm đầu năm, các phòng ban đã phải vắt óc nghiên cứu, để khi đưa ra thị trường, thì sản phẩm phải mới, từ bao bì, đến chất lượng, để bảo đảm không đối thủ nào theo được", ông khẳng định.
< Theo vef.vn >
Đọc thêm »

Thứ Tư, 6 tháng 4, 2011

Đừng hoang tưởng về một thế giới phẳng

Thế giới cũng sẽ KHÔNG phẳng sau sự lan tỏa toàn cầu của mạng lưới Internet. Thế giới sẽ vẫn là thế giới ta đã quen biết suốt 5,000 năm lịch sử: rất nhiều cách biệt giữa các tầng lớp xã hội: giàu và nghèo, học thức và vô học, đạo đức và bất lương, thôn quê và thành thị, quốc gia phát triển và quốc gia nghèo đói. Nhưng công nghệ thông tin lại có khả năng làm gia tăng sự cách biệt này:...
Các chính trị gia và các chuyên gia thường thích dùng các danh từ thời thượng để phô trương tri thức về thế giới và tạo ấn tượng trong cộng đồng. Gần đây, họ hay nói đến các ngôn từ như kinh tế sáng tạo, mạng xã hội, hội nhập toàn cầu, công nghệ xanh, kỹ thuật số, chỉ số hạnh phúc... Nhưng một chữ bị lạm dụng nhiều nhất có lẽ là "thế giới phẳng".
Danh từ này được Thomas Friedman dùng làm đề tài cho một tựa sách vào 2005 để diễn tả một hiện tượng mới về xã hội và kinh tế do cuộc cách mạng Internet và công nghệ thông tin (IT) mang lại. Giả thuyết của ông là sự lan tỏa cùng khắp những thông tin và kiến thức nhanh chóng qua Internet đã san bằng mọi cách biệt về lợi thế kinh tế giữa các quốc gia, giữa các thể chế chính trị, và giữa  các tầng lớp nhân dân. Kết quả là một thế giới phẵng lì, không còn rào cản vả bất cứ ai cũng có thể nắm bắt những cơ hội mới do công nghệ mới tạo dựng.
Tôi đã theo dõi nhiều bài viết của Friedman trên New York Times, tờ báo của giới mệnh danh là "tiến bộ" (liberal) của các trí thức khoa bảng Mỹ. Ông này có tật xấu là đơn giản hóa mọi vấn đề, rồi dựa trên một vài sự kiện đặc thù mà đặt ra các giả thuyết khá phi lý, phù hợp với quan điểm cá nhân của mình. Ông luôn quên đi sự phức tạp của mọi vấn đề bàn luận, dù là xã hội, kinh tế hay chính trị, dù là địa phương hay toàn cầu. Thế giới phẳng và một xã hội đại đồng bình đẳng là một hoang tưởng rất thời thượng của ông.

thế giới phẳng,marketing,Thomas Friedman
Ảnh minh họa: saga
Vào khoảng 1885, Karl Benz sáng chế ra chiếc xe hơi hiện đại thay thế cho cỗ xe ngựa và cùng thời điểm, James Maxwell đưa ra lý thuyết để thế giới có được máy phát thanh (radio). Nếu ông sinh ra ở thời này, Friedman cũng sẽ dễ dàng đưa ra lập luận về một "thế giới phẳng" vì hai phát minh này cũng đã đem nhân loại đến gần nhau hơn. Thế nhưng, sau đó, ai cũng biết thế giới đã KHÔNG phẳng với những sáng chế diệu kỳ về xe hơi, về radio, về TV, về máy in... Tôi cũng xin báo cho các bạn trẻ là thế giới cũng sẽ KHÔNG phẳng sau sự lan tỏa toàn cầu của mạng lưới Internet.
Máy tính, Internet, điện thoại di động và các dụng cụ công nghệ thông tin quả đã tạo nên một cách mạng vĩ đại về kiến thức và thông tin với tốc độ, tầm cỡ và chức năng. Nhưng thế giới sẽ vẫn là thế giới ta đã quen biết suốt 5,000 năm lịch sử: rất nhiều cách biệt giữa các tầng lớp xã hội: giàu và nghèo, học thức và vô học, đạo đức và bất lương, thôn quê và thành thị, quốc gia phát triển và quốc gia nghèo đói. Thực sự, công nghệ thông tin lại có khả năng làm gia tăng sự cách biệt này: người biết sử dụng IT sẽ khôn khéo dùng lợi thế cạnh tranh này của mình để kiếm tiền, kiếm quyền và đặc lợi nhiều hơn so với đám đông còn bỡ ngỡ.
Sự yêu thích hình tượng và viễn ảnh của một thế giới phẳng có lẽ bắt nguồn từ sự ao ước của rất nhiều nhà trí thức trẻ (trong đó có người viết bài này) với một con tim tha thiết về một xã hội công bằng, không có khác biệt giữa giàu nghèo, giai cấp hay phân khúc. Một thế giới đại đồng của những người bình đẳng về mọi khả năng và quyền lợi. Cuộc thí nghiệm vĩ đại nhất lịch sử đã diễn ra ở Liên xô và Trung Quốc hơn 70 năm. Ngày nay, tại hai xã hội này, sự cách biệt về giàu nghèo (theo chỉ số Gini) thuộc loại cao nhất trong 10 hạng đầu của thế giới (Top Ten).
Rất nhiều văn nghệ sĩ, trí thức và các bậc khoa bảng luôn luôn ta thán về hiện tượng bất công của xã hội, thường kết luận trong vội vã "đời không công bằng chút nào" khi so sánh sự thua kém của mình với những nhân vật mà họ nghĩ là không xứng đáng. Chính tôi cũng hay rơi vào trường hợp tự ti này khi không để lý trí suy xét.
Vào thời điểm 1968 sau khi tốt nghiệp Đại học ở Mỹ, tôi và một người bạn người Mã Lai tên là Michael cùng quay trở về nước. Trong khi tôi chật vật với lương giảng viên ở Đại Học Bách Khoa Phú Thọ, Michael được ông bố, vốn là một đại gia tăm tiếng ở Mã Lai, mua cho một ngân hàng rồi bổ nhiệm hắn làm Chủ Tịch TGĐ một ngân hàng đứng hàng thứ 8 ở Mã Lai vào thời đó. Ngay cả suốt cuộc đời 2 đứa trong 42 năm qua, trong khi tôi phải lên voi xuống ngựa, đi từ đỉnh cao của thịnh vượng đến vực thẳm của nghèo khó, Michael vẫn ung dung tự tại sống đời thượng lưu, thành công từ việc làm ngân hàng đến tạo dựng một đế quốc về địa ốc. Sau này, mỗi lần qua chơi, tôi vẫn rất ghen tỵ, chép miệng, "đời thật bất công".
Một người bạn khác ở VN cùng tôi mài ghế suốt 4 năm trung học. Anh ta tên Duy và là thần tượng của tôi hồi đó. Học giỏi, đẹp trai, con nhà giàu, nhưng trên hết, có một hạnh kiểm hoàn toàn, luôn luôn được bầu là trưởng lớp bởi các học trò và thầy cô. Ai cũng ngưỡng mộ. Anh thường ái ngại nhìn tôi bỏ lớp trốn học, đi tán gái, chọc phá làng xóm, và nói nếu không thay đổi tính nết, tương lai của tôi sẽ chìm sâu trong đống bùn. Tôi luôn luôn đồng ý, nhưng đã không bỏ được những thói quen xấu. Xong Tú Tài, anh thi đậu vào Đại Học Sư Phạm dễ dàng và trở thành một bậc thầy khả kính sau những năm học hành. Còn tôi, may mắn được học bổng Mỹ, bay đi tận nữa vòng trái đất, loay hoay làm lại đời mình. Một lần về thăm nhà năm 1992, Viện Đại học Cần Thơ mời tôi giảng dạy một buổi về Kinh Tế Mở Cửa của TQ cho các học sinh cũng như nhiều vị giáo chức tu nghiệp. Tôi ngỡ ngàng gặp lại Duy, thay đổi thứ bậc trong liên hệ thầy-trò. Anh ngượng ngùng, bỏ ngang lớp học sau tiết đầu và không trả lời điện thoại khi tôi kêu. Bạn bè cho biết hôn nhân của anh trắc trở, anh buồn đời làm một con sâu rượu giải sầu, và bị cấp trên "đầy đọa" vì nhiều lần say rượu trong lớp học. Tôi chắc Duy cũng đang nghĩ thầm, "đời thật bất công".
Cách nay ba tháng, một đại gia trẻ tuyên bố trong một buổi hội thảo là tương lai IT của VN sáng ngời, vì chỉ sau 10 năm, dân số VN có điện thoại di động bây giờ đã lên đến hơn 53 triệu người. Anh ta đồng hóa việc sỡ hữu một cái phone với trình độ kiến thức và hiệu năng của nền kinh tế sáng tạo, biểu hiện qua một công cụ IT phổ thông. Tôi có 2 người giúp việc nhà. Họ đều sở hữu điện thoại riêng cho cá nhân và nhờ những chương trình khuyến mãi, nói chuyện qua phone đến 4, 5 giờ mỗi ngày. Họ trao đổi liên tục với bạn bè, láng giềng, gia đình dưới quê về mọi chuyện lặt vặt, còn hơn Twitter của các siêu sao ở Hollywood. Thậm chí họ còn dùng điện thoại để chửi nhau, để khuyến nghị về số đề, về mua hụi, về chương trình kịch trên TV. Thậm chí, một bà đã gần 50 tuổi, có chồng và 4 đứa con ở quê, vẫn trả lời tất cả những cú phone từ người lạ, đóng vai trò một cô gái mới 20, đóng góp và giải tỏa các lời yêu thương ảo (như một loại  phone sex rẻ tiền) cho rất nhiều bạn trai Việt.
Những bất công hay hố cách biệt vừa kể cũng có thể là do sự lựa chọn và sở thích của cá nhân. Năm trăm năm trước, ngài Nguyễn Bỉnh Khiêm đã ca tụng chữ "nhàn" và lối sống điền viên, "Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ. Người khôn người đến chốn lao xao". Nếu ta bắt ông phải sống trong một Net café, cạnh Ngã Sáu Chợ Lớn, nhìn khói bụi, dòng xe và biển người qua lại, chắc ông phải khóc tủi thân mỗi ngày. Còn nếu ai buộc tôi phải xa rời các trung tâm tài chính thế giới như New York, Luân Đôn hay Hồng Kông... để về sống ở xứ Cà Mau với những cánh đồng bất tận của chị Nguyễn Ngọc Tư chắc tôi cũng hóa điên. Dù tôi biết chỗ đậu xe ở Cà Mau không thể tốn 40 dollars mỗi ngày như New York.
Trong chuỗi hội thảo về đầu tư cho các doanh nhân và sinh viên Việt Nam vào tháng 3 vừa qua, tôi nói nhiều về Zuckerberg của Facebook. Anh chàng sinh viên 24 tuổi này đã bắt đầu với một ý tưởng và 1 ngàn dollars của bạn cùng phòng; và chỉ trong 4 năm tạo nên một tài sản mà Goldman Sachs đánh giá là 60 tỷ dollars; tương đương với 60% GDP của Việt Nam. Trong số 80 triệu dân hiện tại, có người Việt nào sẽ đứng lên đáp lời sông núi để chứng minh là thế giới đã phẳng như Friedman nói; hay chúng ta sẽ lại có thêm vài khẩu hiệu rẻ tiền về sáng tạo?
< Theo vietnamnet.vn >
Đọc thêm »

Thứ Ba, 5 tháng 4, 2011

Tám đức tính để lãnh đạo

đức tính,lãnh đạo
Trong môi trường kinh tế quá độ, một số lãnh đạo doanh nghiệp hay biện minh cho hành động hoặc triết lý hành động của mình bằng câu: “Thương trường là chiến trường”. Nhận thức trên chỉ đúng trong một bối cảnh, một khoảng thời gian ngắn và cá biệt. Bởi lẽ lịch sử đã chứng minh rằng hòa bình và phát triển bền vững để giàu mạnh, hạnh phúc là điều mong muốn của con người.

Ernest Renan, một triết gia lớn, đã nói: “Khoa học mà không lương tâm chỉ là sự sụp đổ của tâm hồn”, thiết nghĩ tư tưởng này cũng đúng trong lĩnh vực kinh tế hay làm kinh tế mà các nhà lãnh đạo và điều hành nên để ý. Tôi cho rằng lãnh đạo và điều hành hay triết lý hành động và điều hành của nhà lãnh đạo cần dựa trên tám đức tính. Đó là bình tĩnh, tự tin, can đảm, lo xa, trân trọng, kiên định, chủ kiến và lương tâm.

Tám đức tính này không phải là những điều xa xôi, khó khăn lắm mới có thể thực hiện được mà thật ra nó đã tiềm ẩn trong ta. Chỉ có điều là liệu mỗi người đã nhận thức được đây là những đức tính cần phải phát huy hay không? Các nhà lãnh đạo và điều hành thành công lừng lẫy trên thế giới, và ngay ở Việt Nam trong lĩnh vực kinh tế, đã sử dụng các đức tính này một cách nhuần nhuyễn và đầy nghệ thuật.

Tôi xin biện chứng một cách ngắn gọn về tám đức tính này.


Bình tĩnh (Trầm tĩnh)

Doanh nghiệp là một quần thể con người với những mâu thuẫn nội tại phức tạp, và chịu những tác động từ bên ngoài: cạnh tranh, quan liêu hành chính, công nợ khó đòi... Người lãnh đạo hay người điều hành gặp muôn vàn điều bực dọc, khó khăn, nếu không bình tĩnh (trầm tĩnh) thì sự sáng suốt sẽ mất đi, lúc đó sự quyết đoán sẽ trở thành võ đoán làm ức chế cấp dưới.

Tự tin và tin tưởng cấp dưới

Nhà lãnh đạo cần phải tự tin để tạo dựng niềm tin cho tập thể mình đang điều hành. Trong những lúc doanh nghiệp đương đầu với khó khăn, sóng gió, sự tự tin (một phần lớn là nhờ sự bình tĩnh/trầm tĩnh) giúp giữ vững được niềm tin, khơi động được sức mạnh tổng hợp của tập thể.

Cứ hình dung vị người tướng đưa quân sang sông trong một cơn bão táp, tự tin chờ quân sang đến nơi mới đến phiên mình qua sông. Trong tình huống đó, đội hình của quân sang sông dù sóng gió vẫn chỉnh tề, nhịp nhàng và đầy quả cảm trước khó khăn.

Sự tự tin của nhân viên còn được tạo ra khi người lãnh đạo và điều hành tin tưởng cấp dưới để ủy quyền. Khi quân tướng đã một lòng, chiến thắng là điều có thể, rất có thể! Đây là một điều rất quan trọng mà người lãnh đạo không nên bỏ qua

Can đảm

Dám nhận sứ mệnh lãnh đạo và điều hành một tập thể, đó là sự can đảm. Bởi vì sự thành công hay thất bại của người lãnh đạo đều có ảnh hưởng rất lớn tới từng cá nhân trong tập thể đó, từ yếu tố tinh thần đến vấn đề kinh tế.

Can đảm để lắng nghe những phản biện của cấp dưới. Can đảm để sửa sai và công nhận sự sai lầm của mình một cách chân tình. Người lãnh đạo và điều hành một khi đã biết dấn thân và chấp nhận rủi ro thì đôi lúc cũng phải can đảm đưa ra những quyết định - đã được cân nhắc - dù không được đa số đồng ý

Lo xa

Hôm qua, hôm nay, ngày mai có biết bao nhiêu rủi ro tiềm ẩn và cũng có nhiều cơ hội để phát triển. Người lãnh đạo và điều hành phải biết giải bài toán tài chính rất mâu thuẫn: vừa hào sảng lại vừa cần kiệm. Nhà lãnh đạo và điều hành phải biết biến mâu thuẫn thành sức mạnh cấp số nhân, chuyển bại thành thắng, chuyển thắng thành thắng to mà nhân viên của mình không phải quá gian khổ.

Trân trọng

Trân trọng không phải là một mỹ từ mà là một đức tính. Trong những bài phát biểu hay trong những văn bản, mỹ từ “trân trọng” được sử dụng đến độ trở thành sáo rỗng.

Thật ra, trân trọng là một đức tính cơ bản của người lãnh đạo và điều hành, như Lưu Bị trân trọng Khổng Minh, Nguyễn Huệ trân trọng danh sĩ Nguyễn Thiệp... Doanh nghiệp sẽ có sức mạnh nếu biết trân trọng công sức từng con người, từng bộ phận trong tập thể đó. Sự trân trọng của người lãnh đạo và điều hành càng được thể hiện rõ nét khi họ hiện diện, chỉ đạo, chia sẻ cùng cấp dưới trong những lúc phải đối đầu với tình huống gian lao, khó khăn

Kiên định

Kiên định không phải là bướng bỉnh, ngang tàng và nhất định không phải là ngông cuồng. Tính kiên định hàm chứa một lý tưởng mà người lãnh đạo và điều hành nhận lãnh như một sứ mệnh để phục vụ doanh nghiệp, tập thể mà mình là người đứng đầu.

Lịch sử đã chứng minh những thành công rực rỡ đòi hỏi sự kiên định. Thủ trưởng kiên định, cấp dưới kiên định, tập thể kiên định trong bình tĩnh, tự tin, can đảm và biết lo xa trong sự trân trọng công sức từng cá nhân.

Chủ kiến

Người lãnh đạo và điều hành luôn luôn có một bộ máy tham mưu giúp việc, nhưng nếu người lãnh đạo và điều hành không có chủ kiến sẽ rất khổ cho cấp dưới. Có chủ kiến không phải là chủ nghĩa anh hùng cá nhân. Lãnh đạo là người tư duy, hành động... dám thay đổi chủ kiến của mình khi cần phải thay đổi. Chủ kiến và khiêm cung không mâu thuẫn.

Lương tâm

Lương tâm có thể nói vắn tắt là sống có đạo, đạo ở đây là đạo trời, đạo sư, đạo cha mẹ... Đây là một tư tưởng thấm nhuần trong nền văn hóa của nhân loại. Làm kinh tế cũng thế. Có thể áp dụng tư tưởng của Ernest Renan để nói rằng: “Kinh tế mà không lương tâm chỉ là sự sụp đổ của tâm hồn”. Và cũng vì lẽ đó mà tôi trân trọng tư tưởng “Kinh tế thị trường trong định hướng xã hội”.

Thiết nghĩ, nếu có tám đức tính trên, người lãnh đạo và điều hành sẽ thấy yêu đời, yêu người và yêu mình.

Ai nói rằng làm kinh tế là khổ?
< Theo Thời báo kinh tế Sài Gòn >
Đọc thêm »

Thứ Hai, 4 tháng 4, 2011

Walt Disney và chuyện cổ tích vẽ từ niềm đam mê

Rất nhiều người thắc mắc, điều kỳ diệu nào đã làm nên thành công của Disney. Câu trả lời của ông là: "Toàn bộ những thứ có được hôm nay đều được bắt đầu với một ước mơ và một con chuột". Với ông, "cách tốt nhất để bắt đầu là không nói nữa và bắt tay vào làm việc", nhưng ông cũng hoàn toàn ý thức được rằng: "Một con người không nên phớt lờ gia đình để lao vào kinh doanh".
Hành trình theo đuổi niềm đam mê

Walter Elias Disney
Walter Elias Disney
Ngày sinh: 5/12/1901.
Ngày mất: 15/12/1966
Bố: Elias Disney
Mẹ: Flora Call Disney
Chị gái: Ruth Disney
Ba anh trai: Roy Disney, Ray Disney, Hubert Disney
Vợ Lillian Bonds
Hai con gái Diane Disney Miller và Sharon Disney Lund.
Tuổi thơ êm đềm của cậu bé Walt Disney trôi qua tại một trang trại ở Marceline, bang Missouri, bên cạnh bốn người anh chị của mình.
Những khám phá về một thế giới bên trong trang trại đã trở thành khởi nguồn cho một niềm say mê kỳ lạ của Disney: đó là vẽ. Cậu bé lưu giữ tất cả những hình ảnh đó bằng nét vẽ. Cậu miệt mài vẽ và vẽ tất cả những gì có thể. Và bằng những mẩu than đá, cậu bé sáng tạo nên một thế giới diệu kỳ của riêng cậu trên mọi chất liệu. Trên những mẩu giấy vệ sinh, cậu vẽ nên những tác phẩm đầu đời...
Năm Disney lên bảy, cậu đã biết kiếm những đồng tiền đầu tiên từ chính niềm đam mê của mình. Một bác sĩ nghỉ hưu sống gần nhà Disney đã trả tiền để cậu vẽ tranh về con ngựa của ông ta. Nhưng cũng vì quá ham mê vẽ tranh nên cậu bé bỏ bê luôn cả việc học. Bố mẹ cậu không hài lòng chút nào về việc này. Họ đã cất hết đồ vẽ của cậu, và cậu chỉ được phép vẽ tiếp khi nào chăm chỉ đi học trở lại.

Với Walt Disney, quãng thời gian thơ ấu đó là những năm tháng đẹp nhất trong đời...
Những tháng ngày bình yên ở trang trại sớm kết thúc vào năm Disney tròn tám tuổi. Bố của cậu bị bệnh thương hàn và không thể làm việc được nữa. Trang trại phải bán đi và gia đình Disney chuyển đến thành phố Kansas. Ở đó, niềm say mê với cây bút vẽ bị gác lại vì cậu phải kiếm tiền. Cậu phải thức giấc vào lúc 3 giờ sáng để rao báo trên các khu phố.
Trong ý nghĩ của các thầy cô giáo, Disney chỉ là một cậu học trò trung bình, với thiên hướng là làm cho mọi thứ nguệch ngoạc hơn là biết vâng lời. 15 tuổi, cậu nhận việc làm thêm vào dịp hè ở nhà ga Santa, bán các thứ lặt vặt cho khách. Nhưng rồi, Disney lại thấy thích thú với những chuyến ngao du trên tàu hơn là việc bán hàng. Lên trung học, cậu dành phần lớn thời gian để vẽ tranh cho báo trường và không mấy để tâm tới các môn học khác. Hầu hết khoảng thời gian buổi tối của cậu đều dành cho lớp học ở Viện nghệ thuật Chicago.
16 tuổi, Disney rời trường học để gia nhập quân đội, nhưng vì quá nhỏ nên cậu bị từ chối. Sau đó, cậu quyết định làm giả mạo giấy khai sinh và tham gia Tổ chức Chữ thập đỏ Mỹ, nhưng thời điểm cậu hoàn thành xong khóa đào tạo thì cũng là lúc chiến tranh kết thúc. Disney quyết định ở lại Pháp và làm lái xe cứu thương. Không giống như những chiếc xe cứu thương khác, chiếc xe của Disney được trang hoàng bằng rất nhiều tranh cổ động do cậu sáng tạo. Sau hai năm bôn ba và trải nghiệm cuộc sống một mình tại châu Âu, chàng trai trẻ Disney chợt nhận ra một điều vô cùng quan trọng. Và cậu đưa ra một quyết định rất nghiêm túc: trở về Mỹ.
Về Mỹ, Disney chạy thật nhanh về nhà gặp cả gia đình. Hứng khởi và đầy hồi hộp, cậu muốn chia sẻ với họ niềm đam mê mà bấy lâu hằng tìm kiếm. Cậu nói với cả nhà rằng: "Con sẽ trở thành một họa sĩ hoạt hình!". Tràn ngập trong hạnh phúc của niềm đam mê nghệ thuật chân chính, chàng họa sĩ trẻ Walt Disney chờ đợi những lời ủng hộ thốt lên, những cái ôm xiết chặt và những nụ cười rạng rỡ. Nhưng, thông điệp mà cậu nhận được là một cái lắc đầu của bố...
Không chịu bỏ cuộc, với sự hỗ trợ của anh Roy, Disney đã tìm được việc in các tấm quảng cáo ở Phòng Mỹ thuật Pesemen - Rubin. Tại đây, Disney tiếp tục thử nghiệm thể loại hoạt hình. Disney nhanh chóng bị cuốn vào khả năng có thể làm ra phim hoạt hình. Lúc này, Disney vô cùng thỏa chí khi tìm được điều mình thực sự thích thú. Và Disney bắt đầu nghĩ đến việc sinh lợi...

Vẽ ý tưởng thành lợi nhuận
Trong lúc làm việc ở Phòng Mỹ thuật Pesemen-Rubin, Disney đã gặp Ubbe Iwwerks - một người vẽ tranh biếm họa. Hai người trở thành bạn thân. Họ chia sẻ ý tưởng, niềm đam mê và quyết định cùng nhau lập ra công ty đầu tiên có tên là Iwerks-Disney Commercial Artists. Nhưng, những kỳ vọng của hai người đã bị dập tắt chỉ sau một tháng công ty hoạt động. Có quá ít khách hàng tìm tới họ. Cả hai đến làm việc ở hãng quảng cáo thành phố Kansas - nơi họ tiếp tục thử nghiệm phim hoạt hình với các kỹ thuật khác nhau. Sau 2 năm, Disney vẫn chưa tìm hài lòng, ông bỏ việc để mở công ty thứ hai.

Chuột Mickey

Chuột Mickey - đối với tôi là biểu tượng của hoà bình. Đến phút chót, cậu ấy đến với tôi như một vị cứu tinh. Cậu ta nhảy tọt ra khỏi đầu tôi trên một tập giấy vẽ... trên chuyến xe lửa từ Mahattan đến Hollywood trong lúc sự nghiệp của anh trai Roy và tôi đang ở mức tệ hại nhất của thời kỳ suy sụp và thảm hoạ thì kề bên... Anh bạn nhỏ sinh ra trong tình trạng cấp thiết, và đã thực sự giải phóng chúng tôi ra khỏi tâm trạng lo lắng lúc đó. Cậu ta đã giúp chúng tôi mở rộng tổ chức và đã đưa phim hoạt hình lên những cấp độ giải trí mới. Cậu ta đã làm cho sản phẩm của chúng tôi bán rất chạy" - Walt Disney

Công ty thứ hai mà Disney thành lập có tên là Hãng phim Laugh-O-Gram, chuyên sản xuất những phim hoạt hình ngắn dựa trên các câu chuyện của trẻ em. Các phim của Disney thu được thành công ở Kansas, nhưng ở nơi khác thì lại không thu được nhiều lợi nhuận. Trong khi đó, việc duy trì các bộ phim lại ngốn rất nhiều tiền. Alice ở xứ sở thần tiên có thể là câu chuyện ngắn cuối cùng trước khi công ty này phá sản vào năm 1923.
Vẫn cương quyết theo đuổi niềm đam mê của mình, Disney bán máy quay và mua vé tàu một chiều tới Los Angeles, California. Ông nộp đơn khắp nơi để xin làm đạo diễn phim nhưng các hãng phim đều cự tuyệt.
Disney quyết định quay trở lại với phim hoạt hình.
Ông gửi một bản copy của vở Alice ở xứ sở diệu kỳ tới một nhà phân phối ở New York, vì có người muốn hợp tác với Disney. Sau khi thuyết phục người anh trai giúp mình về tài chính và thuyết phục Iwwerks chuyển đến California, họ chính thức thành lập xưởng phim Anh em nhà Disney. Ông cũng thuê một họa sĩ có tên là Lillian Bounds - người sau này trở thành vợ của ông.
Sau 4 năm thành công khiêm tốn, loạt hài kịch Alice kết thúc. Hãng Universal Pictures ủy quyền cho Disney với loạt phim mới có tên gọi "Chú chuột may mắn Oswald". Loạt phim này đã mang lại thành công cho hãng và tiếp tục được xưởng Disney mở rộng quy mô. Nhưng sau một tranh cãi với nhà phân phối, Disney mất hết quyền hành với Oswald cũng như với hầu hết nhân viên.
Walt Disney vẫn không chịu bỏ cuộc, lúc nào trong đầu ông cũng đầy ắp ý tưởng. Ông hiểu rõ, trên phương diện hội họa mình thua xa các họa sĩ làm việc tại xưởng phim. Ông phác thảo sơ lược ý tưởng, rồi mô tả chi tiết bằng lời về nhân vật hoạt hình mà ông muốn thể hiện, từ đó các họa sĩ dưới quyền sẽ định hình.

Thành công không phụ những nỗ lực sáng tạo không ngừng của Disney. Năm 1928, Disney bật lên thành công rực rỡ với sự sáng tạo nổi tiếng nhất trong nghề nghiệp của mình: chuột Mickey. Chuột Mickey xuất hiện lần đầu tiên ở Steamboat Willie - vở hoạt hình khớp âm thanh đầu tiên trên thế giới. Ngay từ khi ra đời, chuột Mickey đã được Disney trao cho một sứ mệnh đặc biệt: "Tất cả những gì chúng tôi muốn và mong đợi ở cậu ấy là mọi người sẽ cười khúc khích với cậu và cười khi thấy cậu ta. Chúng tôi không muốn đặt Mickey thành biểu tượng nào cho xã hội. Chúng tôi không làm cậu ta trở thành người phát ngôn cho sự thất bại hay cho sự mỉa mai thô lỗ. Mickey chỉ đơn giản là một nhân vật nhỏ được giao nhiệm vụ mang đến tiếng cười”.
Trong khi chuộc Mickey làm mưa làm gió trên thị trường thì Disney tiếp tục cho ra đời loạt phim Silly Symphonies. Do không hài lòng với việc chia sẻ lợi nhuận, Disney ký hợp đồng phân phối mới với hãng Columbia Pictures. Sau đó, Iwwerk bỏ Disney để thành lập phòng chiếu riêng và Disney bắt buộc phải thay thế ông bằng nhiều nhà sản xuất phim khác. Thành công của Disney với chuột Mickey được trao giải thưởng Hàn lâm năm 1932.
Danh sách các nhân vật hoạt hình như vịt Donald, Goofy và các nhân vật khác trong loạt phim, đã mang lại thành công lớn. Nhưng Disney vẫn chưa dừng lại, ông tiếp tục chinh phục lĩnh vực phim hoạt hình. Năm 1934, mặc dù cả gia đình và đồng nghiệp đều can ngăn, Disney vẫn theo đuổi việc sản xuất bộ phim dài tập về nàng Bạch Tuyết. Những khoản thu khổng lồ đã chứng minh rằng Disney hoàn toàn đúng. Sau 2 năm và với khoản tiền lớn từ ngân hàng Mỹ, Nàng Bạch Tuyết và bảy chú lùn vươn lên đứng đầu, trở thành bộ phim hoạt hình thành công nhất năm 1938, và thu được số tiền tương đương 98 triệu đô ngày nay.

Xưởng phim Disney tiếp tục bành trướng, cho ra một loạt tác phẩm hoạt hình kinh điển như Pinocchio, Chú nai Bambi và Chú voi biết bay Dumbo. Trong suốt chiến tranh thế giới lần II, hãng cũng được phép sản xuất phim cho quân đội. Cho đến tận cuối những năm 1940, xưởng phim lại gây nên chấn động với những phim động như Hai vạn dặm dưới đáy biển và Bẫy phụ huynh.

Không dừng lại ở những bộ phim cổ tích về thế giới chỉ trong tưởng tượng, Disney quyết tâm xây dựng nên một thế giới cổ tích thật sự hiện hữu. "Tại sao lại không thể?" - Disney chợt nghĩ khi đi thăm công viên trẻ em ở Oakland, California. Và ông nghĩ tới một vùng đất trong theo đúng trí tưởng tượng của Disney, với tên gọi Disneyland.
5 năm sau, Disney thành lập Hãng WED để xây dựng công viên ở Anaheim và khai trương vào 18/07/1955. Nhưng công viên đó vẫn chưa làm Disney thật sự thỏa mãn. Tới năm 1964, Disney quyết định tạo ra thế giới Disney, một phiên bản giống như vậy nhưng rộng hơn xứ sở Disney ở Florida. Disneyland đã trở thành một hiện tượng trên toàn cầu. Disney đã làm được một điều thần kỳ, đó là hiện thực hóa các câu chuyện cổ tích.
Hiện nay, Disneyland trở thành thiên đường cho không chỉ trẻ em, mà còn với cả người lớn. Còn với riêng cá nhân Walt Disney, Disneyland cũng là một thiên đường mà ở đó, ông đã thỏa mãn được niềm đam mê hoạt hình, và biến nó thành rất nhiều kho vàng...

Mở rộng thương hiệu
Disney là người đi đầu trong việc phát triển thương hiệu và việc kinh doanh. Luôn suy nghĩ về cách để có thể mở rộng thương hiệu, Disney đã thiết lập những tiêu chuẩn mới về khả năng kinh doanh thương hiệu của mình.
Từ các kỹ thuật phát triển cho tới chiến dịch kinh doanh sản phẩm, Disney đã khai phá ra các nền tảng mới và sử dụng trí tưởng tượng của mình để mở rộng con đường đi tới đỉnh cao. Ông thường sử dụng nhiều chiến lược quảng cáo để truyền thông điệp trước khán giả như áp phích quảng cáo, quảng cáo trên truyền hình, chiến dịch thư điện tử trực tiếp và thậm chí ngay cả các cửa hàng tạp phẩm. Ông tìm hiểu kỹ thị trường để làm cho mọi người thấy rằng họ không thể quên được ông là ai.
Ý tưởng xây dựng một công viên giải trí bắt đầu hình thành năm 1953. Ông tập hợp mượn số tiền bảo hiểm của ông và tập hợp nhân viên thành lập hội WED (viết tắt của tên ông - Walter Eilas Disney) để tổ chức dự án. Tháng 2/1954, những kế hoạch cho công viên Disneyland và chương trình truyền hình được công bố.
Loạt chương trình của Walt nói về sự hấp dẫn của công viên bắt đầu vào tháng 10/1955 và đều do chính ông dẫn. Và Disneyland - sản phẩm kết tinh của sự sáng tạo với những kỹ thuật hiện đại đã chính thức mở cửa vào ngày 17/7/1955.
Disneyland được khải trương bằng một lễ hội do các vị khách danh dự chủ trì. Ông mời tới 11 nghìn người, hầu hết là các nhân vật danh tiếng và những người quyền cao chức trọng. Trên thực tế, có đến 30 nghìn người có mặt. Sau đó, ông quyết định phải tường thuật trực tiếp chương trình trên truyền hình. Với 29 máy và 63 chuyên gia kỹ thuật, chương trình 90 phút đã tốn 11 triệu đô la. Nhưng nó thật đáng "đồng tiền bát gạo". Theo ước tính có đến 90 triệu người theo dõi sự kiện đó, ngoài ra còn rất nhiều người khác đã biết Disney là ai và mọi người đều háo hức được tận mắt trông thấy Disneyland như thế nào.
Disney xem Disneyland "là điều tôi có thể liên tục phát triển và "nghiện" nó", và đúng như Disney từng tuyên bố: "Sẽ không có thêm một công viên nào như Disneyland cả".
Với Disney "khi chúng tôi xem xét một dự án, chúng tôi thực sự nghiên cứu nó, không chỉ là ý tưởng bề nổi mà mọi thứ về nó". Tài năng kinh doanh của Disney nằm ở việc đầu tư đúng vào các tiềm năng để phát triển thị trường. Điều đó thể hiện qua việc đầu tư vào bộ phim "Nàng Bạch Tuyết và Bảy chú lùn". Đây không chỉ là bộ phim hoạt hình đầu tiên có các nhân vật có kích thước như thật mà nó còn là bộ phim đầu tiên có một chiến dịch kinh doanh các sản phẩm đi kèm. Kể từ đó, 25% lợi nhuận của công ty đến từ việc bán các sản phẩm cho khách hàng.
Disney sử dụng các phim của mình một cách rất thông minh. Từ các bộ phim, một loạt các sản phẩm liên quan như búp bê, đồ chơi, các trò chơi đã thu hút khách tới công viên của ông. Disneyland nhanh chóng trở thành một cách thúc đẩy lợi nhuận lý tưởng và Disney không bỏ qua bất kỳ cơ hội nào. Trong công viên có một lâu đài và đó chính là một sự quảng bá từ rất sớm cho bộ phim "Người đẹp ngủ trong rừng" mà 4 năm sau khi khai trương Disneyland mới công chiếu.
Tầm nhìn của Disney chưa bao giờ ngừng. Ông không ngừng tìm kiếm cơ hội để mở rộng hoạt động. Sau thành công của Disneyland ở California, Disney đã nhận ra rằng nó không chỉ thu được lợi nhuận trong nước, mà có thể mở rộng ra toàn thế giới. Việc xây dựng thế giới Walt Disney được bắt đầu 1 năm sau khi Disney mất và thành công vẫn tiếp diễn kể cả khi không có mặt của người sáng lập. Ngày nay, công viên và khu nghỉ mát Disney mang lại hàng tỉ đô lợi nhuận mỗi năm cho công ty Walt Disney.

Theo đuổi ước mơ
Walt Disney được ví như một ông tiên có thể biến ước mơ thành hiện thực. Ông cho rằng: "Trời đã sinh ra tôi là một kẻ hiếu kỳ, khi nhìn thấy bất cứ một cái gì mà tôi không thích, tôi đều nghĩ tại sao lại như vậy và tôi có thể làm gì để thay đổi điều này". Và với ông, "cách tốt nhất để tạo ra một điều gì đó là không nói nữa và bắt tay vào hành động".
Disney đã trải qua 3 năm khó nhọc để sản xuất phim "Nàng Bạch Tuyết và Bảy chú lùn". Trước đó, chưa từng có bộ phim hoạt hình nào có nhân vật với kích thước như người thật, với đầy màu sắc và âm nhạc. Từ các đối thủ cạnh tranh đến các đối tác, thậm chí ngay cả vợ của ông cũng không tin rằng nó có thể thu được thành công.


Ngân sách ban đầu chỉ có khoảng 500.000 đô la, thế mà dự án đã chi vượt ngân sách nửa triệu đô khi ngay từ đầu. Disney đã bắt buộc phải bước ra khỏi câu chuyện cổ tích để tìm đến các ông chủ ngân hàng để vay thêm khoản tiền cần thiết để hoàn thành bộ phim. Cuối cùng, "Nàng Bạch Tuyết và Bảy chú lùn" đã kiếm được số tiền gấp 4 lần chi phí khi nó được công chiếu vào năm 1938.
Điều mang lại thành công cho Disney chính là đam mê và quyết tâm hoàn thành dự án. Và đó cũng là đặc điểm mà Disney đã mang đến trong suốt sự nghiệp của mình. "Khi bạn tin vào một điều gì đó, hãy tin nó hoàn toàn và đừng nghi ngờ vô lý" - Disney nói. "Khi tôi đề ra một dự án mới, tôi tin tưởng nó trên mọi phương diện. Chúng tôi tin vào khả năng sẽ làm nó đúng. Và chúng tôi làm việc chăm chỉ để làm công việc tốt nhất có thể".
Nàng Bạch Tuyết và Bảy chú lùn

Trong toàn bộ sự nghiệp của Disney, ông được thử thách bằng những lời phản hồi, sự phê bình và những người nghi ngờ khả năng của ông. Disneyland từng là ý tưởng bị chế nhạo nhiều nhất. Chỉ một số rất ít các nhà đầu tư thấy khả năng tài chính trong việc xây dựng công viên hơn 100 hecta ở California. "Disneyland là công trình của tình yêu" - Disney nói. "Chúng tôi không mở ra Disneyland chỉ để kiếm tiền. Chúng tôi làm nó vì biết rằng hầu hết những người mà chúng tôi nói chuyện nghĩ rằng đó là một thảm họa về tài chính - rồi nó sẽ bị đóng cửa và quên lãng ngay trong năm đầu tiên". Hơn thế, Disneyland cũng giống như tất cả những mạo hiểm kinh doanh của Disney, là công trình của đam mê và tình yêu, kết quả là nó đã mang lại những thành công lớn lao.

"Khi chúng tôi mở Disneyland, có rất nhiều người có ấn tượng rằng nó sẽ là thứ làm cho chúng tôi phát tài nhanh chóng, nhưng họ không nhận ra rằng đằng sau Disneyland là tổ chức - xưởng phim mà tôi xây dựng. Tất cả họ đều bỏ công sức vào đó và chúng tôi thực hiện nó vì chúng tôi yêu thích thực hiện nó". Cho dù thành công của nó, thậm chí những năm sau đó Disney đã có một thời gian rất khó khăn nhưng kinh nghiệm từ trước đó cho biết, ông sẽ không bao giờ bỏ cuộc.

"Khi bạn tò mò, bạn thấy có rất nhiều điều thú vị để làm", Disney nghĩ vậy. Và một điều để thực hiện mọi thứ là lòng can đảm, như cách Disney can đảm theo đuổi ước mơ của mình. Ở tuổi 65, ông mất vì căn bệnh ung thư phổi nhưng xác của ông được giữ lại và ướp lạnh ở trạng thái tiềm sinh. Nhiều người tin rằng, một ngày nào đó, khi y học tìm ra thuốc chữa bệnh ung thư, Walt Disney sẽ hồi sinh. Điều tưởng chừng không thể ấy biết đâu sẽ trở thành "có thể", nhất là với một người dành trọn đời mình để biến ước mơ thành hiện thực như Walt Disney.

Những triết lý của Walt Disney
* Tôi thực sự thích việc phục vụ mọi người, mang lại cho mọi người sự hài lòng, đặc biệt là mang tiếng cười đến người khác hơn là quan tâm đến việc tự diễn tả bản thân với những cách thể hiện sáng tạo này nọ.

* Chúng tôi không cố gắng để phục vụ những kẻ phê mình. Tôi sẽ nắm lấy cơ hội của mình với đám đông.

* Bạn có thể thiết kế, sáng tạo và xây dựng nơi tốt đẹp nhất trên thế giới. Nhưng bạn cần con người để có thể biến ước mơ thành hiện thực.

* Khi bạn tò mò, bạn sẽ thấy có thật nhiều điều thú vị. Và thứ cần để thực hiện mọi việc chính là lòng can đảm.

* Tôi không thích những khu vườn được tỉa tót. Tôi thích thiên nhiên hoang dã. Có lẽ đó chính là bản năng hoang dại trong tôi.

* Tôi tin rằng không có tầm cao nào mà một người nắm được bí quyết của việc biến giấc mơ thành sự thật lại không thể vươn tới. Bí quyết đặc biệt này có thể tóm tắt trong 4 chữ C: Tò mò (Curiosity), Tự tin (Confidence), Can đảm (Courage) và Kiên nhẫn (Constancy). Khi bạn tin một điều gì đó, hãy tin nó trọn vẹn, đơn giản và không nghi ngờ.

* Tôi chưa bao giờ gọi công việc của mình là một nghệ thuật. Đó là một phần của việc kinh doanh, ngành kinh doanh giải trí.

* Tôi không bị ảnh hưởng bởi các kỹ thuật hoặc mẫu mã của bất kỳ công ty điện ảnh nào khác.

* Bất kỳ khi nào tôi lái xe, tôi luôn nghĩ mọi việc có vấn đề gì không và có thể được cải thiện như thế nào.

* Cách để bắt đầu là thôi không nói nữa và bắt tay vào làm việc.

* Bạn sẽ thất bại nếu bạn chỉ nhắm vào trẻ em. Người lớn cũng chỉ là những đứa trẻ đã trưởng thành. 

Disneyland


* Tôi đã đối mặt với sự cạnh tranh khốc liệt trong toàn bộ cuộc đời. Tôi không biết làm sao để sống mà không có nó.

* Tôi không sử dụng những người mà chỉ có vai trò trang trí khi tham gia vào một việc nào đó. Tôi cũng không dùng những người mà họ ở xung quanh mình chỉ vì sự nổi tiếng của mình.

* Khi tôi xem xét một dự án, chúng tôi thực sự nghiên cứu nó - không chỉ là ý tưởng bề nổi mà mọi thứ xung quanh nó. Khi chúng tôi tham gia vào dự án mới đó, chúng tôi tin tưởng nó bằng mọi giá. Chúng tôi tự tin vào khả năng sẽ làm nó đúng. Chúng tôi làm việc chăm chỉ để làm công việc tốt nhất có thể.

* Vấn đề lớn nhất? Tôi nói đó là vấn đề lớn nhất trong toàn bộ cuộc đời tôi. Tiền. Cần rất nhiều tiền để có thể biến những giấc mơ này thành hiện thực. Ngay từ những ngày đầu, nó đã là một vấn đề. Có tiền để mở Disneyland. Nó mất khoảng 17 tỉ. Và chúng tôi đã thế chấp tất cả, cả bảo hiểm cá nhân của tôi.

* Khi mở ra Disneyland, rất nhiều người có ấn tượng rằng nó sẽ là thứ để kiếm tiền nhanh chóng, nhưng không ai nhận ra rằng đằng sau Disneyland là một tổ chức lớn, và tất cả chúng tôi tham gia làm nó vì chúng tôi yêu nó.

* Chúng tôi vẫn làm Disneyland khi mà hầu hết mọi người nói rằng nó sẽ là một thảm họa về tài chính - sẽ bị đóng cửa và quên lãng ngay trong năm đầu tiên.

* Disneyland là công trình của tình yêu. Chúng tôi không chỉ tạo ra Disneyland chỉ vì ý tưởng kiếm tiền.

* Nếu bạn có thể mơ ước điều đó, bạn có thể làm nó.
* Tôi không có cảm giác suy kiệt. Tôi vui vẻ, chỉ vui vẻ, vui vẻ mà thôi.
Đọc thêm »