ADS 468x60

Hãy sống như hôm nay là ngày cuối cùng.

Luôn nhớ rằng tất cả chỉ là bắt đầu...

Hiển thị các bài đăng có nhãn Internet Marketing. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Internet Marketing. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 4 tháng 6, 2011

5 clip 'dàn dựng' gây sốt trên mạng

Ngày càng nhiều công ty tạo ra những đoạn video có nội dung gây sốc nhưng lại cố tình quay một cách nghiệp dư để người xem tưởng đó là tình huống có thật vô tình được camera ghi lại.
>> Viralmarketing và những ý tưởng phát tán bậc thầy.
Họ chờ đợi các clip này thu hút hàng trăm nghìn, thậm chí hàng chục triệu lượt xem và gây tranh cãi lớn trên các diễn đàn, mạng xã hội... trước lên tiếng thừa nhận nội dung video chỉ là sản phẩm của các "bậc thầy" về marketing và quảng cáo.
viral marketing, Internet Marketing, Gillette

Đầu tháng 5, hàng triệu người thán phục cầu thủ Evan Longoria đã nhanh tay chộp quả bóng đang lao đến phía cô phóng viên. Nhưng đây chỉ là clip quảng cáo của hãng Gillette. Nội dung clip không liên quan đến thương hiệu dao cạo râu này nhưng logo Gillette hiện phía sau Longoria suốt cả video. Xem video
viral marketing, Internet Marketing,Limitless,Thinkmodo

Giữa tháng 3, cư dân mạng đón nhận clip về một người sử dụng iPhone để "hack" các biển quảng cáo ở quảng trường Thời đại tại New York (Mỹ) để đưa hình ảnh trên điện thoại lên màn hình lớn. Đoạn video đã gây sửng sốt trước khi người ta biết rằng công ty Thinkmodo đã tạo ra clip thu hút gần 4 triệu lượt xem này là để quảng bá cho bộ phim Limitless. Xem video
viral marketing, internet marketing, đi trên nước, hi-tec

Đi trên mặt nước là thách thức mà con người muốn chinh phục từ lâu. Clip Liquid Mountaineering kể về quá trình tập đi trên nước đầy vất vả nhưng thú vị đã thu hút 10 triệu lượt xem. Thực chất, đây là quảng cáo giày Hi-Tec. Xem video
viral marketing, internet marketing, bike hero, guitar hero

Năm 2008, cộng đồng game thủ đã bất ngờ và thán phục trước clip "Bike Hero" mô phỏng trò chơi Guitar Hero với xe đạp và vỉa hè của một "thiên tài nghiệp dư". Nhưng sau đó, lãnh đạo của công ty Activision "thú nhận" họ đã quay clip cả đêm để chào đón sự ra đời của phiên bản Guitar Hero: World Tour. Xem video
viral marketing, Internet Marketing, bướm tấn công người

Sát ngày Cá tháng tư năm 2010, cư dân mạng sửng sốt khi xem video một anh chàng bị hàng nghìn con bướm tấn công trong công viên Happy Hollow ở California (Mỹ). Hãng Qualcomm về sau thừa nhận họ làm vậy để quảng cáo công nghệ màn hình tiết kiệm năng lượng mirasol cho điện thoại. Xem video

< Theo VnExpress.net >
Đọc thêm »

Thứ Sáu, 11 tháng 3, 2011

"Close Up - Tìm em nơi đâu" - Mổ xẻ một showcase viral marketing

Search Google với từ khóa "Tìm em nơi đâu" hoặc "tim em noi dau closeup", bạn sẽ nhận được vô số kết quả với đủ những lời khen chê khác nhau. Thành công hay thất bại thế nào chắc chỉ có brand mới trả lời chính xác được. Nhưng xét trên khía cạnh viral, đó là campaign đầu tiên thành công ở VN. Xét trên khía cạnh online campaign, đó cũng là một show case giá trị.

>>Viral marketing và những ý tưởng phát tán clip bậc thầyViral marketing và những ý tưởng phát tán clip bậc thầy

Bài viết này hi vọng cung cấp cho các bạn trẻ một câu chuyện thú vị để làm hành trang cho những dự án tiếp theo của mình trên con đường online marketing đầy thử thách
Hình ảnh trong clips "tìm em nơi đâu?"

1. Tóm tắt nội dung

Câu chuyện diễn ra vào một buổi chiều mưa tầm tã. Chàng sinh viên kiến trúc tên Nam vô tình gặp một cô gái dễ thương đang cùng trú mưa ở nhà chờ xe bus. Tim rạo rực như bị sét đánh, nhưng vì quá nhút nhát chàng không dám ngỏ lời, đành nhìn cô gái bước đi khi cơn mưa chiều đã ngớt. Không biết vì mưa quá to, hay vì ánh mắt nàng quá ướt át mà Nam bị cảm thật sự. Chàng quyết tâm tìm lại cô gái ấy. Viết blog, làm clip, dán tờ rơi, chàng làm đủ mọi cách để mong tìm được cô gái. Tình yêu đã biến 1 chàng trai nhút nhát thành một người hết sức bạo dạn, dẫu việc chàng làm tưởng như vô vọng....

Các bạn có thể xem clip của Nam: tại đây.!

Câu chuyện được Việt hóa từ một chuyện tình có thật ở New York. Dù chuyện gốc khá nổi tiếng, nhưng ko nhiều người biết (ngoại trừ các marketer nhanh nhạy). Mô típ như vậy ở VN thật ra không mới, có điều những chuyện tình cảm sướt mướt vẫn có đất để bàn luận. Hơn nữa giới trẻ VN đa phần thiếu tự tin trong tình yêu và thích tò mò với những điều mới mẻ. Nói chung đó là một câu chuyện hay đủ để viral

2. Tham vọng của Close Up

Close Up muốn thông qua câu chuyện hư cấu này khuyến khích các bạn trẻ trở nên tự tin và mạnh mẽ thể hiện tình yêu của mình. Đó cũng là nội dung của thông điệp "Tự tin tìm kiếm tình yêu" mà họ luôn muốn truyền tải. Một ý tưởng rất hay và khéo, nếu thành công sẽ tạo nên sức lan tỏa mạnh mẽ

Tuy nhiên viral là một hình thức khá mới mẻ ở VN, hơn nữa ai cũng thấy câu chuyện tiềm ẩn nhiều rủi ro. Suy nghĩ kĩ bạn sẽ thấy có rất nhiều kẽ hở để những người tò mò hoặc đối thủ khai thác. Việc sử dụng một câu chuyện không có thật cũng dễ gây ra phản ứng ngược của cộng đồng. Kết thúc câu chuyện như thế nào cũng là điều không dễ giải quyết....Và hàng trăm trở ngại nữa.

Điều đầu tiên phải ghi nhận là sự quyết tâm của brand & agency khi dám thực hiện 1 ý tưởng mới lạ tiềm ẩn nhiều rủi ro. Đấy là điều không nhiều brand dám làm, dù khi nào họ cũng đòi hỏi ý tưởng độc đáo. Close Up đã được đền đáp bởi sự dũng cảm đó.

3. Cách thực hiện

Có thể chia ra làm 3 giai đoạn chính

- Giai đoạn tự phát: Câu chuyện bắt đầu được lan truyền trên Internet thông qua những kênh chủ đạo là Yahoo 360, Youtube, Forums. Yahoo 360 được xem là trọng tâm, các kênh Youtube, forums hay MXH khác đóng vai trò hỗ trợ. Giai đoạn này khá thành công vì câu chuyện diễn ra tự nhiên và nhận được sự đồng cảm của cộng đồng. Blog có nhiều bài viết rất tình cảm sướt mướt, đủ để lay động những trái tim mơ mộng. Các clip Youtube được làm khá sáng tạo theo nhiều cách thể hiện khác nhau: Lúc thì nhớ thương gửi qua câu hát, khi thì là các đoạn hoạt họa ấn tượng, lúc thì điên khùng một chút, điều đó tạo sự mới mẻ và đón nhận cho người xem. Các kênh forums cũng hoạt động khá sôi nổi góp phần lan tỏa nội dung


- Giai đoạn nổi tiếng

Blog sau một thời gian được hỗ trợ mạnh đã trở nên khá hot trên Yahoo 360. Tên tuổi của anh chàng Nam đẹp trai, tài năng và si tình cũng được biết đến rộng rãi. Lúc này brand bắt đầu nhảy vào như một lẽ tự nhiên để nâng tầm câu chuyện.

+ Các hoạt động offline cũng được tổ chức: Tọa đàm về tình yêu, tầm quan trọng của việc tự tin.....và khéo léo lồng câu chuyện của chàng Nam si tình như một tấm gương điển hình của giới trẻ.

+ Các bài PR trên các báo lớn và hot blogs (OnlyU) giúp Nam dần trở thành một tên tuổi nổi bật.

Đến đây thì những người tinh ý, nhất là các marketer đã bắt đầu nghi vấn. Xuất hiện khá nhiều bài phân tích sắc sảo, kèm theo những phỏng đoán tiếp theo về câu chuyện. Có nhiều người phản đối. Nhưng chính những ý kiến trái chiều như vậy cũng góp phần giúp câu chuyện trở nên thu hút hơn. Bạn có thể search Google để đọc thêm nhiều bài phân tích của các marketer nổi tiếng ngay khi giai đoạn này bắt đầu manh nha.

- Giai đoạn thương mại hóa

Close Up chính thức nhảy vào đồng hành với công cuộc tìm kiếm của Nam như một cách để cổ vũ các bạn trẻ hãy Tự tin tìm kiếm tình yêu của mình. Website timem.com.vn được xây dựng. 4 cuộc thi được đồng thời tổ chức với chủ đề dự đoán kết quả cuộc tìm kiếm. Mass media được sử dụng để thu hút người tham gia. Tham vọng của Close Up là biến sự kiện tìm người yêu của chàng Nam trở nên đình đám để tận dụng hiệu ứng truyền miệng (word of mouth)

Ý tưởng như vậy là hợp lí, nhưng có vẻ họ không thành công lắm khi thực hiện. Việc sử dụng mass media khiến câu chuyện không còn tự nhiên. Sự nổi tiếng quá nhanh của Nam khiến brand có vẻ lúng túng trong việc lèo lái nội dung, xử lí các sự cố và những nghi ngờ của độc giả. Khá nhiều marketer, hot bloggers vào cuộc tạo nên những topic phản đối ầm ĩ trên Openshare, Chudoanhnghiep hay các blog cá nhân. Những ai từng theo dõi kĩ campaign này sẽ cảm nhận rõ nét sức nóng hừng hực trong giai đoạn đó. Phản đối, ủng hộ, ăn theo, săn đón....tất cả đã tạo nên 1 bầu không khí nóng hổi, nhộn nhịp.

Như tôi đã trình bày trong bài viết trước, một trong những điều nguy hiểm của viral là khó kiểm soát hiệu ứng. Trong trường hợp này, Close Up cũng không thành công khi giải quyết các luồng dư luận, dẫn đến campaign xuất hiện nhiều sạn. Tuy vậy, họ may mắn vì những người đối lập không đủ lực để gây trở ngại, còn khán giả (giới trẻ) thì cũng tương đối dễ tính. Sự lùm xùm hay ầm ĩ đa phần chỉ do các marketer tranh cãi với nhau, nhưng không đủ để tác động đến lòng tin của phần lớn khán giả. Nên Close Up đã may mắn thắng trong cuộc đấu này.

- Đoạn kết: Điểm nhấn quan trọng của campaign chính là sự kiện "500 cặp tình nhân hôn tập thể" vào 13/2/2010 tại NTĐ Phan ĐÌnh Phùng. Khi mà câu chuyện về Nam đã không còn nóng thì sự kiện hot này đã thu hút sự chú ý của hàng trăm ngàn bạn trẻ và giới truyền thông online. Hàng loạt tờ báo lớn nhỏ đăng tin về sự kiện này. Website timem.com.vn tăng đột biến về traffic (hơn 40,000 người truy cập/ ngày). Blog của Nam cũng đầy những câu hỏi xoay quanh sự kiện đó. Đoạn kết xuất sắc này đã giúp campaign trở nên thành công trọn vẹn

Những ai tham gia event đó chắc sẽ thất vọng vì cách tổ chức nhàm chán trong một không gian chật hẹp thiếu sự lãng mạn. Những ai tò mò về đoạn kết câu chuyện sẽ thất vọng vì Nam không xuất hiện. Một kết thúc dở khi đã trót gieo quá nhiều hi vọng.

"Tìm em nơi đâu" có thể xem là campaign gây tranh cãi nhiều nhất trong cộng đồng online marketing. Người khen, kẻ chê, kẻ tò mò, nhưng theo tôi được biết đến nhiều, được tranh cãi nhiều cũng là thành công. Có khá nhiều điểm dở của campaign đã được các marketer chỉ ra, nhưng đối với các bạn trẻ, tìm hiểu kĩ showcase này sẽ cho các bạn những bài học quý giá để làm những viral campaign hoành tráng về sau.

Để kết thúc, tôi xin tóm lược lại một số điểm quan trọng về campaign này.

- Đây là 1 viral campaign. Mặc dù nhiều bạn sẽ phản đối vì có sự can thiệp của mass media hay PR, nhưng những yếu tố viral trong campaign khá rõ nét.

- Campaign được xây dựng rất bài bản, từ khâu tạo nhận biết, đẩy lên cao trào cho đến sự xuất hiện của brand. Có chăng việc thực hiện chưa thật tốt nên gây ra những tranh cãi hoặc lỗ hổng.

- Campaign thành công: Brand tăng sale 45%, Agency được tặng giải AME. Sau này tôi gặp khá nhiều khách hàng ngỏ ý muốn làm một campaign tương tự, nhưng thật sự rất khó để làm lại một điều như vậy

"Tìm em nơi đâu" thực sự là một cú hích trong thời kì đầu của online marketing ở VN. Đó có thể coi là phát súng mở màn cho sự vào cuộc của hàng loạt brand với rất nhiều campaign đình đám trong giai đoạn 2009 - 2010. Rất tiếc là các dữ liệu online của campaign đã không còn để các bạn tham khảo. Hi vọng bài viết này của tôi sẽ hữu ích cho những ai đã và đang đi trên con đường online marketing đầy thử thách này
                                                                                                  < Theo theviralchallenge.com >
Đọc thêm »

BUZZ Marketing: đột phá để thành công

Nếu đã là một công dân số và từng sử dụng qua Yahoo Messengers thì chắc không ai trong chúng ta xa lạ với chức năng BUZZ. Giữa một rừng “cửa sổ” chat, thì người nào BUZZ tức là đang cần ưu tiên.Đó cũng chính là nguyên tắc của Buzz marketing: tạo ra một hiện tượng, một cú sốc thật đặc biệt để mọi người bàn tàn xôn xao về nó. Một cách gây chú ý để được ưu tiên.

Buzz marketing cũng tận dụng sức mạnh kênh truyền miệng giống như Viral marketing. Nếu như viral marketing tập trung vào sự lan truyền thông tin với những thông tin rất tự nhiên, thì Buzz marketing lại tạo hiệu ứng truyền miệng bằng cách tạo ra những sự nhận biết về thương hiệu và những bàn tán xung quang thông tin, sự kiện đó.
Buzz marketing đang ngày càng khẳng định được vai trò độc đáo của mình giữa những kênh tiếp thị truyền thống mang nặng sự toan tính và yêu cầu chi phí rất cao. Đặc biệt khi tận dụng được kênh truyền miệng sẽ giúp quảng bá cho doanh nghiệp hiệu quả với mức chi phí thấp. Trong quảng cáo truyền thống, các công ty phải trả một số tiền rất lớn để truyền tải thông điệp tới khách hàng (TVC, Prind Ads…), trong khi đó, với Buzz marketing, tự thân nó sẽ trở thành đề tài hấp dẫn để mọi người và cơ quan truyền thông đưa tin, và nhờ đó, doanh nghiệp đã tiết kiệm được một khoản ngân sách vô cùng lớn để truyền tải thông điệp tới hàng triệu triệu người dùng.
Buzz marketing còn đặc biệt quan trọng và có ý nghĩa với các thương hiệu mới ra đời hoặc những thương hiệu muốn bứt phá trên thị trường. Tuy nhiên, để tạo ra một chiến dịch Buzz thành công thì không phải ai cũng có thể làm được, chỉ có những doanh nghiệp dám vượt qua những rào cản “an toàn” thì mới có thể thành công cùng Buzz marketing.

 

Như chúng ta đã biết, điều quan trọng nhất để tạo nên một chiến dịch Buzz thành công đó chính là ý tưởng độc đáo. Đó có thể là việc sản xuất ra một sản phẩm mới với những tính năng đặc biệt chưa từng có, hoặc một clip quảng cáo thật sốc, một pano khổng lồ… Nếu ý tưởng của bạn đủ sức làm khách hàng thích thú và thực sự đột phá trong lĩnh vực của bạn, thì cơ may thành công của bạn đã là rất cao.

Một trong những bài học được người làm Buzz marketing xem như showcase kinh điển, đó chính là câu chuyện về website: half.com. Ra đời vào năm 1999 tại Mỹ trong thời kỳ bùng nổ Internet, phó chủ tịch phụ trách tiếp thị lúc đó là Mark Hughes được thuê thực hiện chiến dịch giới thiệu website này. Trọng trách của Mark là: “8 tuần thực hiện với ngân sách 150.000 đô-la Mỹ, hoặc công ty này sẽ phá sản!”. Mark đã gặp rất nhiều công ty quảng cáo để tìm ý tưởng độc. Nhiều ý tưởng sốc như làm khinh khí cầu bay với logo và slogan của half.com qua tượng George Washington. Thế rồi, những ý tưởng này không thể thực hiện được vì chi phí vượt quá ngân sách cho phép.Trong lúc bế tắc, Mark phát hiện nước Mỹ có hơn 40 thị trấn có tên tương tự như website của anh như Half Acre, Halfway, Half Moon…. Mark tự hỏi: “Nếu yêu cầu một thị trấn nào đó đổi tên thành Half.com, chỉ cần một năm thôi, thì thế nào nhỉ?”Đây là chuyện không tưởng trong lịch sử hơn 300 lập quốc của Mỹ. Biết là khó nhưng Mark không bó tay. Anh thử đến thị trấn nhỏ chỉ có 350 người Halfway tại bang Oregon.Ban đầu, “lời đề nghị khiếm nhã” của Mark đều bị từ chối. Anh phải gặp gỡ, thuyết phục từng thành viên trong hội đồng thị trấn và cả những người dân nơi đây để quyết định có đổi tên hay không.Vũ khí anh đưa ra trong cuộc thương lượng đơn giản và cụ thể. Thị trấn cần nhiều người biết đến, người dân cần cải thiện cuộc sống, cần thêm công ăn việc làm, cần thêm du lịch. Còn half.com cũng cần nhiều người biết. Tuy vậy, half.com sẽ ủng hộ 100.000 đô-la Mỹ để xây dựng phòng máy vi tính, làm websiste riêng cho thị trấn. Chỉ có thế.Và đó cũng là cái mà thị trấn cần. Trong tiến trình bàn bạc của các quan chức thị trấn, trưng cầu ý kiến, báo chí đã nhảy vào cuộc. vì đây là sự kiện lạ nhất từ trước đến nay.Rồi ngày Halfway quyết định đổi tên, cũng là ngày mà website half.com chính thức ra đời. Ngày đó, báo chí ùn ùn đưa tin. Từ báo giấy, đài, radio cho đến báo mạng, đều dành trang nhất cho sự kiện này. Tạp chí Time đã kết luận một câu chắc nịch: “Đây là sự kiện truyền thông ầm ĩ nhất trong lịch sử nước Mỹ”.Hai mươi ngày sau, eBay đề nghị mua lại half.com với giá 300 triệu đô-la Mỹ. Tất nhiên, half.com không thể nói không!Chưa đầy 3 năm kể từ khi ra đời, lượng thành viên truy cập half.com tăng lên 8 triệu người, một con số không tưởng lúc bấy giờ.

Một công ty khác đã rất thành công trong việc ứng dụng Buzz marketing chính là Apple. Bản thân các sản phẩm mang trên mình logo “Trái táo cắn dở” đã trở thành niềm khát khao của những người yêu thích công nghệ và sự đột phá. Mỗi bước đi của tập đoàn này luôn được các cơ quan truyền thông theo sát. Người ta tự lấy làm thích thú khi đưa ra những dự đoán cho sản phẩm tiếp theo của Apple, đồng thời sẵn sàng xếp hàng dài chỉ để được trở thành những người đầu tiên được sở hữu chúng. Vô hình dung, chính sự tò mò của tất cả mọi người về Apple đã giúp tập đoàn này tiết kiệm được một khoản ngân sách dùng cho việc quảng bá thương hiệu, bởi đơn giản, khách hàng và giới truyền thông đã thay họ làm điều đó. Và ngày nay, Apple đã trở thành một trong những tập đoàn công nghệ lớn và có ảnh hưởng nhất đến cuộc sống của chúng ta.


Bên cạnh đó, một trong những thách thức của Buzz marketing là không để nhầm lẫn với chuyện “tạo scandal” – dù về mặt nguyên tắc thì hai hiện tượng này có vẻ rất giống nhau. Các marketers cần rất thận trọng trong việc lựa chọn các ý tưởng làm Buzz marketing cũng như cần có những cơ chế kiểm soát và điều phối luồng dư luận, hạn chế tối đa những ý kiến tiêu cực.

Hạn chế chứ không phải là ngăn chặn – vì internet là thế giới của tự do ngôn luận và sẽ luôn có những dư luận trái chiều. Tập trung vào hiệu quả, lắng nghe và chấp nhận những ý kiến trái ngược, chỉ cần nhớ nguyên tắc “Hãy để người khác nói thay cho bạn”, cộng với một chút sự liều lĩnh để thực hiện những ý tưởng độc đáo, Buzz marketing sẽ là một công cụ rất đắc lực để đưa thương hiệu của bạn đến với mọi người.
                                                                             < Theo theviralchallenge.com >
Đọc thêm »

Thứ Sáu, 4 tháng 3, 2011

Vượt khỏi 4P và 3C: Tiếp thị thành công với 5T

Những gì thiết lập nên hoạt động tiếp thị? Dựa trên công việc với khách hàng, lâu nay các chuyên gia tiếp thị coi rằng hoạt động tiếp thị là sự phối kết hợp nhiều yếu tố khác nhau, bao gồm 4P (Product – Sản phẩm, Price – Giá cả, Place – Địa điểm, Promotion – Xúc tiến) 
3C (Customers- Khách hàng, Competitors – Đối thủ cạnh tranh, Corporation – Công ty). Song ngày nay, tiếp thị không còn đơn thuần như vậy nữa. Vượt xa khỏi 4P và 3C, yếu tố 5T đã xuất hiện với mong muốn hình thành một khuôn mẫu tiếp thị đầy đủ nhất.
Giám đốc tiếp thị (CMO) của nhiều công ty ngày nay đang phải đối mặt với cả các cơ hội và thách thức kinh doanh chưa từng có:

- Trách nhiệm giải trình tiếp thị: Không có gì quá bí mật với việc ngày một nhiều hơn các CEO đòi hỏi các kết quả tiếp thị tích cực và hữu hình nhất. Kết quả là không ít CMO phải đề ra nhiều giải pháp mới để đảm bảo chức năng tiếp thị dễ giải trình và có thể đánh giá được.
- Toàn cầu hóa: Việc phục vụ thị trường toàn cầu đòi hỏi các chiến dịch tiếp thị phối kết hợp liên lục địa nhằm hợp nhất các thông điệp, tuy nhiên, các chiến dịch này phải đáp ứng các nhu cầu và tập quán địa phương.
- Những mong đợi tiêu dùng phức tạp: Người dùng ngày một thận trọng và cảnh giác hơn với quyền riêng tư và spam. Việc tuân thủ các quy định của một thị trường và mỗi quốc gia là hết sức thiết yếu.

- Sáp nhập và hợp nhất (M&A): Sự gia tăng không ngừng của các hoạt động M&A đòi hỏi ở tiếp thị những thông điệp hợp nhất nhanh chóng, sự tương thích với những nhãn hiệu mới.

- Công nghệ tiếp thị mới: Sự ra đời của những công nghệ internet mới đã gia tăng đáng kể các phương cách giao tiếp chưa từng có với các khách hàng. Điều này mở ra cơ hội cho các công ty nhắm tới và tiếp cận các khách hàng theo những phương thức cá nhân. Tuy nhiên, các công nghệ mới phải được thực thi và tích hợp trên toàn thế giới với những đội ngũ tiếp thị khu vực thực thi các chiến dịch tại địa phương.
- Hợp tác đa dạng: Việc phối kết hợp với nhiều nhóm tiếp thị khu vực, các bộ phận kinh doanh sản phẩm và bán hàng là một nhiệm vụ quan trọng. Các quy trình cần được ưu tiên hóa và trợ giúp những giới thiệu sản phẩm mới hay thỏa mãn các nhu cầu khách hàng trong một ngân quỹ tiếp thị hạn hẹp. Các thuật ngữ kiểu như “Điều gì thiết lập nên một khách hàng chất lượng?” cần được chuẩn hóa trên toàn cầu.
Yếu tố 5T trong các hoạt động tiếp thị

Total Strategy – Chiến lược tổng thể

Techniques & Processes – Kỹ thuật & Quy trình

Tracking & Predictive Modeling – Theo sát & Khuôn mẫu dự đoán

Technology – Công nghệ

Talent – Tài năng

Bằng việc tiếp cận các hoạt động tiếp thị theo các yếu tố 5T, CMO sẽ có được một phương pháp tích hợp giúp thực thi có hiệu quả tiếp thị toàn cầu. 

Total Strategy – Chiến lược tổng thể  

Yếu tố này liên quan tới những phát triển chiến lược trong danh mục sản phẩm của công ty. Nó hoàn toàn không xa lạ gì với những công ty lớn có hàng tá các sản phẩm cung cấp trên thị trường - thậm chí là hàng trăm sản phẩm ở một số tập đoàn lớn. Việc quản lý các khoản đầu tư và ưu tiên trong danh mục này là thực sự quan trọng.
Những gì định hình nên một chiến lược phát triển cụ thể cho mỗi sản phẩm?

Những nhân tố then chốt nào cần thiết trong mỗi bản kế hoạch để giành phần thắng trên thị trường và đưa sản phẩm ra toàn cầu?

Nơi nào cần giảm bớt khoản đầu tư? Làm thế nào chúng ta có thể giành được thị phần với các nguồn lực của mình?

Techniques and Processes – Kỹ thuật và Quy trình

Thông tin nên lưu chảy thế nào để đảm bảo hiệu quả cao nhất trong các hoạt động tiếp thị toàn cầu? Chúng ta ra quyết định như thế nào? Các quy trình quản trị của chúng ta là gì? Bản đồ quy trình tiếp thị trong năm tiếp theo là gì? trong ba năm tới như thế nào?
Các quy trình lên kế hoạch và đánh giá tài chính

Ngân quỹ nên được phân bổ như thế nào?

Làm thế nào để giao tiếp tốt nhất với các khách hàng? Đâu là những điểm tiếp xúc hợp lý nhất?

Các dòng thông tin nên chảy như thế nào giữa tiếp thị với các bộ phận khác như bán hàng, kinh doanh,...?

Các chuẩn mực và nhân tố cho việc đánh giá các chiến dịch và sáng kiến mới.

Liệu có thể ứng dụng nguyên tắc 6 sigma vào các quy trình của chúng ta?

Khuôn mẫu dự đoán và theo dõi

Chúng ta cần làm thế nào để tiếp thị có thể dễ dàng giải trình hơn? Chúng ta đánh giá các chiến dịch tiếp thị như thế nào và bảo đảm những dự đoán kết quả chuẩn xác nhất ra sao? 

Technology – Công nghệ

Chúng ta thực thi công nghệ trên toàn cầu như thế nào để đảm bảo những giao tiếp khách hàng hiệu quả cùng những đánh giá kết quả nhanh chóng? Những yêu cầu kinh doanh nào cần cho IT? Công nghệ hỗ trợ quy trình tiếp thị và bán hàng như thế nào trong bản đồ đường đi 3 năm tiếp theo? Chúng ta tích hợp với các công nghệ bán hàng như thế nào?

Internet/Web/thương mại điện tử

Các dữ liệu khách hàng hợp nhất/thích hợp

Các diễn đàn khách hàng trực tuyến

Phần mềm quản lý các nguồn lực tiếp thị; Phần mềm Phân tích/Ra quyết định

Dữ liệu nghiên cứu tiếp thị,…. 

Talent – Tài năng 

Chúng ta có thể chắc chắn như thế nào về việc các nhân viên tiếp thị được đào tạo và có khả năng làm việc với các kỹ thuật và quy trình tiếp thị mới? Làm thế nào chúng ta có thể giúp họ đưa ra được những quyết định chuẩn xác dựa trên các phân tích và tính toán chiến lược?

Vai trò và trách nhiệm của một tập thể nhân viên là gì?

Các tập thể nhân viên này giao tiếp như thế nào? Động lực là ở đâu?

Chiến lược đào tạo với một chương trình các kỹ năng tiếp thị thích hợp trên cơ sở chức năng tiếp thị.

Đảm bảo cán cân giữa khoa học và nghệ thuật tiếp thị.

 5T sẽ làm thay đổi Tương lai của tiếp thị

Không thể phủ nhận rằng yếu tố 5T có tác động rất lớn và sâu rộng lên các mối quan hệ khách hàng. Ví dụ, bằng việc thực thi các công nghệ tích hợp cho các nhu cầu khách hàng khác nhau và tiếp cận cơ sở dữ liệu khách hàng, một nhân viên tiếp thị khu vực có thể xây dựng các chiến dịch cách tân trên đỉnh của cơ sở hạ tầng các tổ chức tiếp thị. Bằng việc theo sát thành công của chiến dịch, các công ty sẽ nhận ra những khách hàng tốt hơn cần nhắm tới, họ học hỏi được nhiều điều từ các thành công và thất bại trước đây.
Mặc dù rất có thể đó sẽ là một quy trình nhiều năm cho các công ty lớn để thực hiện tất cả yếu tố 5T, nhưng phương thức tích hợp và mang tính chính thể này đối với các hoạt động tiếp thị sẽ đưa lại cho CMO một khả năng giải trình hiệu quả hơn cho những chiến dịch toàn cầu. Nó giúp họ “tiến hành tiếp thị như vận hành một công ty”.

Yếu tố 5T còn bổ sung những nền móng quan trọng cho chức năng tiếp thị, đảm bảo các hoạt động tiếp thị sẽ hỗ trợ tốt nhất cho các CMO đương đầu với những thách thức và cơ hội kinh doanh hiện tại. 5T đang thực sự làm biến thể chức năng tiếp thị và thay đổi cách thức vận hành tiếp thị trong tương lai.
                                                                         < Nguyễn Tuyết Mai dịch từ Marketing Profs ( Bwportal) >
Đọc thêm »

Thứ Hai, 28 tháng 2, 2011

E-marketing hiệu quả cho blog

Khi công ty bạn đã xây dựng website, bạn cần thực hiện chiến lược E - marketing để thu hút khách hàng đến website của mình. Đặt banner trên các báo điện tử, đưa videoclip lên YouTube để chia sẻ với cộng đồng, nhờ các “hot” blogger viết bài giới thiệu…
Có rất nhiều công cụ quảng bá khác nhau trên Internet mà marketer có thể lựa chọn. Nhưng làm thế nào để các công cụ phát huy hiệu quả thể hiện ở việc lôi kéo được nhiều khách hàng mục tiêu đến với chiến dịch là câu hỏi mà không phải marketer nào cũng có thể trả lời.

Blogging - Tận dụng sức mạnh của quyền lực thứ năm

Ra đời sau báo hình, báo in, báo tiếng, báo điện tử nhưng blog đang nhanh chóng vươn lên trở thành quyền lực thứ năm trong giới truyền thông.


Một câu chuyện có thực tại Malaysia
Ngày 20.6.2008, Kenny Sia, blogger nổi tiếng nhất tại Malaysia than phiền về chất lượng thức ăn phục vụ trên chuyến bay của hãng Hàng không Air Asia trên blog của mình kèm theo hình minh họa. Ngay trong ngày, độc giả trên blog của Kenny đã viết hơn 20 trang A4 phê bình chất lượng thức ăn của Air Asia. Một tuần sau đó, Kenny nhận được lời mời của Air Asia tham dự buổi ra mắt thực đơn mới cho chuyến bay.
Một chút do dự, nhưng rồi Kenny quyết định tham gia sự kiện này. Hình thức trình bày, mùi vị của món ăn mới gây ấn tượng tốt cho Kenny. Ngay sau chương trình, đích thân Tony Fernandes - Chủ tịch Tập đoàn Air Asia đã gọi điện thoại cảm ơn sự có mặt của Kenny.
Khi trở về nhà, anh đã viết lại trên blog những ấn tượng của mình về cuộc trải nghiệm sản phẩm và đăng tải toàn bộ hình ảnh cùng minh chứng về cuộc điện thoại của Tony. Lần này, độc giả của Kenny đã đưa ra hơn 223 lời bình tích cực. Blogging - gắn thương hiệu với “hot“ blogger. Sử dụng “hot” blogger để quảng bá sản phẩm hay đánh bóng tên tuổi của một thương hiệu đã xuất hiện ở Việt Nam khoảng ba năm nay, cùng với sự phát triển của Yahoo!360. Người tiêu dùng thường tin những người họ quen biết hay những tên tuổi lớn trong thế giới blog (hot blogger) hơn là những quảng cáo trên báo hay tivi.


Blogging là một hình thức quảng bá có mức độ tin cậy cao, một dạng marketing truyền miệng online. Doanh nghiệp có thể tiếp cận chính xác đối tượng khách hàng mục tiêu nhờ tính cộng đồng của blog, tạo độ phủ cũng như sức lan

tỏa mạnh mẽ vì blogger là những người năng động và rất tích cực tham gia vào các hoạt động cộng đồng như mạng xã hội… Và có thể nhận được ý kiến phản hồi của người tiêu dùng một cách nhanh chóng.

Câu chuyện trên đây cũng cho thấy rõ sử dụng hot blogger cũng có những thách thức nhất định. Sử dụng đúng cách thì tạo ra hiệu quả, ngược lại có thể phản tác dụng gây ảnh hưởng không nhỏ đến hình ảnh của doanh nghiệp.


1. Chọn đúng “những người có ảnh hưởng” (Influencer)

Đây là phần quan trọng nhất của toàn chiến dịch liên quan đến việc tiếp cận khách hàng mục tiêu. Tùy theo quy mô, đặc tính sản phẩm, thông điệp mà có thể chọn nhiều dạng blogger khác nhau, có thể nổi tiếng hoặc không nổi tiếng hoặc có thể là ca sĩ, diễn viên, nghệ sĩ trong một lĩnh vực nào đó.


Tuy nhiên, tất cả những người này đều phải có liên quan đến thương hiệu, thông điệp sản phẩm và có tầm ảnh hưởng nhất định đối với cộng đồng blogger mà nhãn hàng đang hướng tới. Tầm ảnh hưởng của blogger được xác định dựa trên chất lượng bài viết, số lượng lời bình và danh sách bạn bè của họ.


2. Truyền đạt tinh thần của sản phẩm, thông điệp

Chỉ khi cảm nhận được cái “hồn” và thông điệp của sản phẩm thì các blogger mới có thể giới thiệu một cách rõ ràng, cuốn hút và tự nhiên. Vì thế, hãy phân tích cho họ hiểu rõ đặc điểm của sản phẩm, nhất là các điểm mạnh, khuyến khích họ đối thoại, chất vấn và trải nghiệm để yêu thích sản phẩm thật sự và trở thành “đại sứ” của thương hiệu, chứ không đơn thuần là một người đưa tin.


3. Kiểm soát chất lượng của bài viết

Doanh nghiệp hay các công ty quảng cáo không thể viết thay cho blogger vì sẽ làm mất tính tự nhiên và làm giảm sức hấp dẫn của blog. Thay vào đó, hãy đảm bảo quyền lợi của nhãn hàng bằng cách đánh giá và chỉnh sửa những đại ý mà blogger đưa ra trước khi viết. Sau khi thống nhất, để cho họ tự do thể hiện bằng ngôn ngữ và phong cách của mình trên cơ sở khuyến khích người khác nghĩ tốt về sản phẩm.


4. Kết hợp với các công cụ online khác

Quảng bá bằng blog nên kết hợp với các công cụ online mang tính cộng đồng và tương tác cao như chat, diễn đàn, mạng xã hội… để tạo độ phủ và gia tăng sức ảnh hưởng của chiến dịch.


5. Thu nhận và đánh giá phản hồi

Các công ty nên có những đánh giá định kỳ về phản hồi của người tiêu dùng qua những suy nghĩ, ý kiến trên diễn đàn, chat, lời bình trên blog, mạng xã hội… do các hot blogger báo cáo về để có những điều chỉnh thích hợp.


6. Duy trì mối quan hệ với blogger

Các hot blogger, những người đã có cơ hội trải nghiệm với sản phẩm và gắn bó với bạn trong một thời gian có thể sẽ tiếp tục ủng hộ bạn trong các lần tung sản phẩm hoặc chiến dịch khác. Trong mỗi sự kiện liên quan đến thương hiệu, bên cạnh danh sách khách mời báo chí, đừng quên gửi thiệp mời cho những hot blogger có sức ảnh hưởng tới thương hiệu. Hãy xây dựng mối quan hệ và giữ liên lạc với họ để triển khai các chiến dịch tiếp theo.
                                                                                       <theo blog.yume.vn>
Đọc thêm »

Thứ Bảy, 26 tháng 2, 2011

Quảng cáo trực tuyến: Giải pháp thời khủng hoảng hay xu hướng tất yếu?

Cuộc chạy đua đưa thương hiệu vào tầm chú ý của khách hàng trên những kênh truyền thông truyền thống ngày càng trở nên khó khăn hơn vì phần lớn độc giả đã quá “ngán” các chuyên mục quảng cáo trên báo in và người xem ti-vi sẵn sàng chuyển kênh ngay khi gặp quảng cáo.
quangcaotructuyen

Đã đến lúc người làm công tác tiếp thị, quảng cáo cần nghĩ đến một con đường nhiều cơ hội hơn…

Tại Việt Nam, với hơn 20 triệu người sử dụng – và sẽ đạt 28 triệu vào năm 2010 (1) – Internet đang là một kênh truyền thông có tiềm năng quảng bá rất lớn mà không doanh nghiệp nào có thể bỏ qua.

Tuy nhiên, thị trường Việt Nam còn quá nhỏ bé khi quảng cáo trực tuyến hiện mới ở mức 2,81 triệu Đô la Mỹ (năm 2008) và dự báo sẽ đạt 7,8 triệu Đô la (năm 2010), trong đó quảng cáo hiển thị chiếm đa số, quảng cáo theo từ khóa chiếm khoảng 10% tổng lượng quảng cáo trực tuyến (2).
Tiếp thị trực tuyến là gì?

Tiếp thị trực tuyến là tiếp thị sản phẩm-dịch vụ trên Internet bằng cách (3):

- Tiếp thị bằng cỗ máy tìm kiếm (search engine marketing – SEM). Khi người sử dụng Internet gõ một từ khóa (keyword) đã được “mua” bởi một nhãn hàng, hoặc được tối ưu hóa bằng kỹ thuật SEO (search engine optimization), trang web của nhãn hàng đó sẽ hiện lên đầu tiên trong danh sách kết quả tìm thấy. Từ đó cơ hội khách hàng ghé thăm trang web, nắm thông tin và muốn mua sản phẩm hoặc dịch vụ sẽ tăng lên.

- Tiếp thị bằng thư điện tử (e-mail marketing). Những công ty cung cấp giải pháp e-mail (ESP) đều có gói quảng cáo này nên các doanh nghiệp có thể gửi thông tin tiếp thị đến hàng loạt địa chỉ e-mail với chi phí rẻ. Tuy nhiên, hình thức này có thể không đạt hiệu quả cao khi tình trạng thư rác (spam) ngày càng tràn lan.

- Quảng cáo hiển thị như web banner/pop-ups hay quảng cáo đa phương tiện (rich media) hay quảng cáo tương tác (interactive advertising) như in-text/in-game. Đặt logo hay banner quảng cáo tại các trang web có số lượng truy cập lớn, trong đó có nhiều đối tượng khách hàng tiềm năng của sản phẩm. Hoặc ứng dụng công nghệ đa phương tiện để tạo hình ảnh chuyển động đặc biệt trên trang web như flash. Hình thức này đòi hỏi sự đầu tư cao về ý tưởng, thiết kế mỹ thuật. Bù lại, các thành phần đa phương tiện rất cuốn hút, sáng tạo và có khả năng tương tác giúp xác định đối tượng khách hàng.

- Quảng cáo qua Web 2.0 như blog hay các diễn đàn. Cộng đồng trên mạng luôn có chung những quy tắc, luật lệ hay những giá trị. Người làm tiếp thị sẽ dễ dàng xác định được đối tượng khách hàng tiềm năng tùy theo đặc tính của cộng đồng và truyền đạt những thông điệp tiếp thị, quảng cáo một cách nhẹ nhàng, kín đáo nhưng có khả năng lây lan (viral marketing) trong cộng đồng.

Với sự xuất hiện của hàng loạt xu hướng mới như mạng xã hội, bộ lọc xã hội (social filtering), nguồn dữ liệu từ đám đông (crowd sourcing), bộ đánh dấu xã hội (social book marking), blog và tiểu blog (microblogging) như myspace.com, facebook.com, twitter.com, digg.com, createdebate.com, predictify.com, zing.vn, henantrua.vn, yume.vn, tamtay.vn, cyvee.com, nhangui.com, aicoly.com…, người làm tiếp thị càng có nhiều lựa chọn để tiếp thị qua cộng đồng.

Theo Yahoo!, tại châu Á, doanh thu quảng cáo trên các mạng xã hội đã tăng từ 43 triệu Đô la (năm 2006) lên 260 triệu Đô la vào năm nay. Chiến dịch tranh cử thành công vừa qua của Tổng thống Mỹ Barack Obama đã có sự đóng góp rất lớn của tiếp thị trực tuyến vào các mạng xã hội do Chris Hughes, đồng sáng lập viên của Facebook, dẫn dắt.

Tại sao tiếp thị trực tuyến?

Các kênh truyền thông truyền thống như báo in hay truyền hình là lựa chọn an toàn hàng đầu của mọi nhãn hàng. Dù giá của một phút quảng cáo trên truyền hình là cực đắt, doanh nghiệp vẫn bấm bụng chi trả với mong muốn quảng cáo của họ có cơ hội được xem bởi càng nhiều khách hàng càng tốt.

Theo anh Lê Tấn Hải, Giám đốc truyền thông của Công ty TLK, sự xuất hiện của quá nhiều kênh truyền thông làm đối tượng khách hàng càng ngày càng phân mảnh và phân tán sự tập trung của họ khiến việc kiểm soát hiệu quả quảng cáo vốn chỉ mang tính tương đối trở nên khó khăn.

Nếu cách đây 20 năm chỉ có khoảng 18 loại kênh truyền thông như báo in, tạp chí, truyền hình, phát thanh, ngoài trời… thì đến nay đã có 33 loại với những kênh mới như podcasts, blogging, mạng xã hội, tiểu blog… Một ví dụ điển hình khác là số kênh truyền hình trong nước và quốc tế tại Việt Nam trong vòng chưa đến 10 năm đã tăng lên hơn 100.

Tại Việt Nam bây giờ, không chỉ xem được truyền hình qua… ti-vi, khách hàng còn có thể xem qua điện thoại di động và Internet. Nếu người xem chỉ có chưa đầy ba phút để lưu lại mỗi kênh cho đến khi chọn được chương trình ưng ý, thì có bao nhiêu người sẽ chăm chú theo dõi hai phút của đoạn phim quảng cáo nhãn hàng?

Tiếp thị trực tuyến với những ưu điểm sau đã thu hút sự quan tâm của người làm tiếp thị:

- Chi phí hợp lý: Với những cách tính phí linh động như CPC (Cost-Per-Click) hay CPA (Cost-Per-Action hay Cost-Per-Acquisition), quảng cáo trực tuyến tiết kiệm được chi phí mà dung lượng quảng cáo lại không giới hạn. Người làm tiếp thị chỉ phải trả tiền cho những khách hàng tiềm năng nhất, những người đang quan tâm đến sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp.

Không những thế, với một ngân sách khiêm tốn cho tiếp thị trực tuyến, kết quả đạt được có hiệu quả hơn hẳn tiếp thị qua những kênh truyền thống. Theo ông Ram Kapoor, Giám đốc điều hành của Công ty Quảng cáo Y&R Wunderman Vietnam, để làm một phim quảng cáo phải tốn ít nhất 300.000 Đô la, một quảng cáo trên báo in là 80.000 Đô la, nhưng nếu ngân sách chỉ có 30.000 Đô la, bấy nhiêu đã quá đủ cho quảng cáo trực tuyến.

- Hiệu quả cao: Internet phá bỏ mọi giới hạn về không gian, thời gian và khoảng cách với dòng thông tin trao đổi liên tục trên toàn cầu. Tiếp thị trên Internet, nhờ vậy vượt qua được những giới hạn đó và trở nên có lợi thế hơn những kênh truyền thông truyền thống.  Những doanh nghiệp nhỏ có thể tiếp thị sản phẩm và dịch vụ của họ 24/7 trên toàn thế giới.

Ngoài ra, việc khảo sát thông tin người sử dụng Internet thông qua tiếp thị trực tuyến được thực hiện khá đơn giản và đáng tin cậy, giúp các doanh nghiệp định hướng chính xác khách hàng tiềm năng của mình, cũng như thu thập được một lượng lớn cơ sở dữ liệu khách hàng trong mỗi chiến dịch với chi phí cực kỳ rẻ.

- Công nghệ tiên tiến: Với sự hỗ trợ và đổi mới công nghệ không ngừng, tiếp thị trực tuyến gần như không có giới hạn về công nghệ cũng như không gian sáng tạo, đặc biệt ở hình thức quảng cáo đa phương tiện.

- Tính tương tác cao: Các kênh truyền thông trước đây như phát thanh hay truyền hình thường chỉ thông tin một chiều, người tiêu dùng luôn thụ động trong quá trình tiếp nhận thông tin. Nhưng với Internet, doanh nghiệp có cơ hội đối thoại và tương tác trực tiếp với người tiêu dùng. Người tiêu dùng, ngược lại cũng chủ động tiếp cận thông tin, lựa chọn thông điệp nào mà mình muốn nhận hay chia sẻ những trải nghiệm, suy nghĩ, dự báo…

Dựa vào việc phân tích hành vi của người sử dụng Internet, người làm tiếp thị có thể biết được thói quen, sở thích của từng cá nhân, xác định rõ xem người đó có nằm trong nhóm khách hàng mục tiêu hay không, phản ứng của họ với thương hiệu như thế nào…

- Dễ xác định phân khúc khách hàng mục tiêu: Mỗi cộng đồng trên Internet đều có nhóm đối tượng tham gia nhất định. Việc khảo sát thông tin người tham gia được thực hiện khá đơn giản và đáng tin cậy thông qua các hình thức tương tác với người sử dụng như bỏ phiếu bầu (poll), bản khảo sát (online survey), hay đăng ký thành viên… Việc tiếp thị trên Internet trở nên tập trung hơn thay vì triển khai trên diện rộng như nhiều kênh truyền thông truyền thống.

Tiếp thị trực tuyến tại Việt Nam

Tiếp thị, quảng cáo trực tuyến tại Việt Nam chưa phát triển tương xứng với thị trường Internet rộng lớn với hơn 20 triệu người sử dụng, tức 20 triệu khách hàng tiềm năng. Chủ yếu hiện nay vẫn là quảng cáo dạng banner/pop-ups hay mua từ khóa của công cụ tìm kiếm, nhưng còn rất nghèo nàn, đơn điệu về hình thức, cũng như thiếu chuẩn hóa (ví dụ chuẩn Display Impressions năm 2003 hay Digital Video Impressions năm 2006 như của IAB, Mỹ). Những hình thức tiếp thị, quảng cáo trực tuyến khác còn sơ khai và chưa thực sự được sử dụng rộng rãi trong giới làm tiếp thị tại Việt Nam.

Theo ông Aaron Cross, Giám đốc điều hành Công ty Nghiên cứu thị trường Nielsen Vietnam, do tính chất phân nhánh mạnh mẽ của Internet, các nhà làm tiếp thị dễ bị rơi vào cảnh không nhận biết được phân khúc thị trường và khách hàng mục tiêu để quảng cáo. Chưa kể đa số người sử dụng Internet Việt Nam là giới trẻ (50% dưới 30 tuổi (5)) đã không hấp dẫn nhiều doanh nghiệp có sản phẩm nhắm vào phân khúc khách hàng lớn tuổi hơn.

Hơn nữa, sự thiếu sẵn sàng và thiếu chuẩn hóa của các công cụ tiếp thị trực tuyến, công cụ đo lường hiệu quả, công cụ thanh toán trực tuyến và thương mại điện tử tại Việt Nam cũng khiến cho nhiều nhà làm tiếp thị e dè. Ông Vũ Minh Trí, Tổng giám đốc Yahoo! Việt Nam, cho biết: “Các cuộc khảo sát của công ty nghiên cứu thị trường TNS cho thấy, có đến 30% người sử dụng Internet vào các trang web xem banner quảng cáo, nhưng hiệu quả thực sự thì chưa thống kê được. Tất cả những điều chúng ta đang nói chỉ là dự đoán theo xu hướng chung của thế giới.”

Khá nhiều ý kiến của những người làm tiếp thị cho rằng, ở Việt Nam tiếp thị, quảng cáo trực tuyến chỉ là hình thức bổ trợ (compliment) cho tiếp thị, quảng cáo truyền thống. Ông Triệu Tôn Phong, Giám đốc điều hành Công ty MSV, lại cho rằng: “Chìa khóa của một kế hoạch tiếp thị thành công là “tích hợp” (integrated). Sự tích hợp đúng đắn và chặt chẽ giữa những phương thức tiếp thị truyền thống với tiếp thị trực tuyến, cũng như giữa những phương thức tiếp thị trực tuyến với nhau sẽ quyết định sự thành công. Giám đốc tiếp thị cũng như người bốc thuốc, các vị thuốc thì ai cũng biết, nhưng liều lượng thế nào cho chữa được bệnh thì mới gọi là thầy thuốc hay!”.

Do eo hẹp ngân sách tiếp thị, quảng cáo vì khủng hoảng kinh tế, nhiều doanh nghiệp đang tìm hướng đi mới, có hiệu quả hơn và chi phí hợp lý. Tiếp thị, quảng cáo trực tuyến chính là lời giải cho bài toán khó này. Sự quan tâm của doanh nghiệp Việt Nam đối với tiếp thị, quảng cáo trực tuyến ngày càng tăng.

Cuộc hội thảo Saigon Digital Marketing ngày 23/5/2009 tại Khách sạn New World với 14 diễn giả và gần 550 lượt khách tham dự đã chứng minh điều này. Sự thành công của “Là con gái thật tuyệt” của Diana, “Dutch Lady – Ngày của mẹ”, “Tìm em nơi đâu” của Close up hay “Happiness Factory” của Coca-Cola… là những ví dụ điển hình khuyến khích doanh nghiệp vận dụng nhiều hơn phương thức tiếp thị, quảng cáo trực tuyến trong những kế hoạch sắp tới của mình.

Hãy để tiếp thị, quảng cáo trực tuyến trở thành xu hướng tất yếu của tương lai thay vì chỉ là những giải pháp ngắn hạn trong thời kỳ khủng hoảng.

(1) TNS – Taylor Nelson Sofres.

(2) AC Nielsen.

(3) ALLEN, C., KANIA, D. & YAECKEL, B. (1998) Internet World: Guide to one-to-one web marketing. Wiley Computer Publishing, New York, USA.

(4) Tiếp thị trực tuyến – Xu hướng của tương lai? – Doanh nhân Sài Gòn.

(5) TNS và Yahoo! Vietnam.

Nguyễn Cao Tùng (TBVTSG)

(Trích dẫn từ www.onlinemarketingvietnam.com)
Đọc thêm »

Thứ Năm, 24 tháng 2, 2011

Người Việt thích gì trên mạng?

Người Việt đang ngày càng sử dụng nhiều dịch vụ viễn thông, truyền thông đa phương tiện và internet khiến Việt Nam trở thành một thị trường hấp dẫn các công ty nước ngoài.
Mới đây, trong cuộc họp công bố 10 mẫu điện thoại di động Alcatel tại Việt Nam, ông Patrick David Aronson, Tổng giám đốc Công ty TNHH Phân phối Brightstar Việt Nam, cho biết: “Hiện Việt Nam có số người sử dụng điện thoại di động đứng thứ tư ở châu Á, chỉ sau Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia”.
Thích nhắn tin hẹn hò
Gần như là một người Việt sử dụng đến hai sim điện thoại di động. Thuê bao điện thoại di động tại Việt Nam hiện đã vượt qua con số 147 triệu, vươn lên xếp thứ tư châu Á. Tuy nhiên, còn một điểm nổi bật vừa được công bố, đó là người Việt thích nhắn tin SMS hẹn hò vào bậc nhất thế giới.
Cùng với Nigeria, Indonesia và Ukraine, Việt Nam cũng là quốc gia có tỷ lệ người kết bạn trên mạng với những người chưa gặp ngoài đời thuộc loại cao.Theo báo cáo của Hãng Opera, qua phỏng vấn 300.000 người sử dụng điện thoại di động tại các quốc gia như: Mỹ, Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Nigeria, Nga, Nam Phi, Ukraine, Anh, Brazil, Đức, Việt Nam, Ba Lan, thì Việt Nam là nước có tỷ lệ người sử dụng tin nhắn SMS để hẹn hò cao nhất, ở mức 83%.
Đây là điều đi ngược lại với thực tế tiêu dùng cho viễn thông của Việt Nam. Theo một công bố của Công ty Frost & Sullivan cách đây chưa lâu, người Việt có số phút gọi điện thoại di động trung bình còn khá thấp, chỉ từ 120 - 150 phút/tháng, trong khi tại Thái Lan và Indonesia là 250 phút/tháng, Ấn Độ là 400 phút/tháng.
Chính vì thế, chỉ số ARPU (doanh thu bình quân/thuê bao/tháng) của Việt Nam đang ngày càng sụt giảm. Điều này cũng tương ứng với kết quả khảo sát của Opera, là số người Việt chia sẻ hình ảnh qua điện thoại di động còn thấp. Có thể do thói quen, hơn nữa, chia sẻ hình ảnh có thể tiêu tốn cước dữ liệu nhiều hơn.
Tuy nhiên, theo khảo sát của Opera, những người sử dụng trình duyệt Opera mini ở lứa tuổi từ 18 - 27 đã lướt web trên điện thoại di động nhiều hơn trên máy tính, song hành với tỷ lệ người sử dụng internet tại Việt Nam ngày càng tăng, đạt 27,3 triệu người vào cuối tháng 11/2010, thuộc hàng cao nhất trong khu vực Đông Nam Á.
Thích tìm hiểu về người nổi tiếng...
Yahoo! Việt Nam vừa có báo cáo tổng kết năm 2010, theo đó, từ khóa được tìm kiếm nhiều nhất trong năm trên Yahoo! tại Việt Nam chính là Ngô Bảo Châu, tên giáo sư toán học được trao giải thưởng Fields danh giá. Tên riêng đã trở thành từ khóa được tìm kiếm nhiều nhất.
Trong bảng top 10 từ khóa có đến 6 từ là tên riêng, trong đó 4 từ là tên các ca sĩ và diễn viên, còn lại là vấn đề thị trường như “giá vàng” (xếp thứ hai), cho thấy sự quan tâm của người tiêu dùng Việt Nam đối với loại kim loại quý này, và các sự kiện như: World Cup 2010, 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội, lũ lụt miền Trung.
Có thể thấy, xu hướng tìm kiếm không thay đổi gì nhiều, vẫn tập trung vào thế giới người của công chúng, trong đó có những chuyện eo xèo về giới diễn viên, ca sĩ luôn thu hút sự tò mò của rất nhiều người. Đ
Điều này cũng tương đồng với kết quả 10 từ khóa được tìm kiếm nhiều nhất trên Bing của Microsoft, trong đó nhiều từ là tên các ca sĩ, diễn viên.
Tuy nhiên, từ khóa “giá vàng” đã phản ánh đúng sự thắc thỏm của không ít người trong những tháng ngày giá vàng leo thang như vừa qua, từ dưới 30 triệu đồng/lượng lên đến mức như hiện nay.
Vấn đề này sẽ còn nóng vì giá vàng vẫn tiếp tục có những biến động đầy bất ngờ, trong khi “1.000 năm Thăng Long - Hà Nội” và “World Cup 2010” đã kết thúc.
Và thích đưa phim lên youtube
Hai năm trở về trước, YouTube đã được nhắc đến trong cộng đồng mạng tại Việt Nam nhưng khi ấy, người ta vào để xem nhiều hơn là tung lên đấy các video clip. Thế nhưng, một năm trở lại đây, làn sóng YouTube hóa cộng đồng mạng Việt Nam đã diễn ra rõ rệt hơn.
Nhiều video clip được tung lên đã khiến dư luận bức xúc. Mới nhất là video clip bắt mại dâm ở Quảng Ninh. Sau khi đoạn phim quay bằng điện thoại di động này được tung lên, những người đi bắt mại dâm nhưng xúc phạm nhân phẩm người khác đã bị đình chỉ công tác trước sự phẫn nộ của dư luận.
Nhiều tờ báo mạng hằng ngày bắt đầu theo dõi, chờ chực để tải về những video clip nóng sốt, thú vị hay gây sốc trên YouTube nhằm thu hút bạn đọc.
Cũng từ trên YouTube, bà giữ trẻ “tắm hành xác” cháu bé đã bị khởi tố và bắt giam về tội hành hạ trẻ em. YouTube đang được cộng đồng mạng Việt Nam quan tâm hơn lúc nào hết và nó cũng dần trở thành một nơi chốn đầy quyền năng trong dư luận. 


Phạm Nguyễn (Theo DNSG)
Đọc thêm »

Từ Vietnam Idol nghĩ về tiếp thị trên mạng xã hội

Chưa bao giờ cái tên Uyên Linh Idol lại được lan tỏa nhiều như vậy. Nó khiến các nhà tiếp thị, kinh doanh ở Việt Nam phải nghĩ về việc sử dụng công cụ tiếp thị trên mạng xã hội như thế nào?
Sự lan truyền chóng mặt
Dẫu Việt Nam Idol đã khép lại từ cuối năm 2010, nhưng sức "nóng" của Uyên Linh Idol vẫn tiếp tục lan tỏa như virus. Nếu như gõ cái tên Uyên Linh Idol trên Google, sẽ có đến 1.700.000 kết quả tìm kiếm. Và con số này chắc chắn còn chưa dừng lại ở đó. Còn nếu tìm trên Youtube, có đến 1.100 clip sẵn sàng cho bạn xem lại những gì gắn với cái tên Uyên Linh. Người ta háo hức đi mua CD single đầu tiên của Uyên Linh và truyền nhau trên mạng "mua đi làm quà tặng bạn bè". Không chỉ vậy, những trang web, trang mạng xã hội lại tiếp tục "dắt" người tìm đến nhiều trang web, trang mạng, trang blog khác nhau để cùng chia sẻ, bình luận những điều mà mọi người cùng quan tâm về thần tượng âm nhạc này của họ. Uyên Linh Idol, cái tên đã trở thành tâm điểm chú ý của cộng đồng mạng chỉ trong thời gian ngắn, chính là một ví dụ sinh động về sức mạnh của truyền thông, sức mạnh của mạng xã hội.
Làn sóng ngầm?
Năm 2010 vừa bước qua cũng là năm đặc biệt, có thể được xem là "Năm của mạng xã hội" khi Mark Zuckerberg, người sáng lập Facebook, được tạp chí Time chọn là "Nhân vật của năm" (Person of the Year 2010). Mark được vinh danh vì đã tạo ra một hệ thống để kết nối và chia sẻ, đã làm "thay đổi cách sống" của 550 triệu người sử dụng trên toàn thế giới, bởi mỗi ngày sẽ có thêm 700.000 người mới gia nhập Facebook (theo Time).
Có thể nói không ngoa là, cùng với những phương tiện truyền thông quen thuộc trước đây, mạng xã hội đang khẳng định vai trò quan trọng của nó đối với cuộc sống của số đông trong cộng đồng. Đây là xu hướng tăng lên và chưa hề dừng lại.
Con số các trang mạng xã hội hoạt động hiện nay ước tính khoảng 200, trong đó Facebook - hình thành từ năm 2004 - trở thành trang mạng xã hội lớn nhất trên toàn thế giới. Ngoài ra, những mạng xã hội nổi tiếng trên thế giới khác là Twitter, Friendster, MySpace, LinkedIn, Hi5, Bebo, Orkut... cũng có số thành viên lên đến hàng chục, hàng trăm triệu người. Khi trở thành thành viên của mạng xã hội, bạn được khuyến khích tạo một "chân dung" (profile) về bản thân, tải lên hình ảnh, viết blog để chia sẻ và nhận ý kiến từ người khác. Bạn có thể tìm các thành viên khác cùng sở thích, quan tâm, thu thập và chia sẻ danh sách các đầu mối liên lạc. Lập hội, tải phim trực tiếp, diễn đàn thảo luận là những hoạt động rất sôi nổi trên một số mạng xã hội. Gần đây, mạng xã hội còn kết hợp với điện thoại di động, giúp các thành viên gắn kết với những tính năng tương tự như trên, thông qua điện thoại di động.
Những ưu thế hấp dẫn của mạng xã hội rất dễ nhận thấy trong lĩnh vực chia sẻ thông tin giữa các cá nhân trong các cộng đồng khoa học, cộng đồng trong nhà trường, cộng đồng y khoa, bệnh nhân, hội những người có cùng sở thích... Một ví dụ khác có thể đánh giá hiệu quả của mạng xã hội là sự kiện National Equality March (cuộc diễu hành kêu gọi sự đối xử bình đẳng với những người đồng tính) vào 11/10/2009 ở Washington DC. Cộng đồng này đã kêu gọi sự tham gia tình nguyện và huy động được 200.000 người, chuẩn bị và tổ chức với chi phí thấp hơn rất nhiều so với những lần trước đó, chính nhờ vào việc thành lập blog NEM, và liên kết nó với các mạng xã hội Facebook, Twitter và YouTube.
Uyên Linh trở thành một hiện tượng trên các mạng xã hội
Thêm một công cụ cho marketing
Đứng trước xu hướng phát triển của mạng xã hội, người ta đã bắt đầu nghĩ đến vai trò của nó trong lĩnh vực kinh doanh và marketing. Trở lại thời điểm tháng 11/2006, qua nghiên cứu của một trong những công ty lớn nhất thế giới về tư vấn và chiến lược truyền thông là KnowledgeStorm Inc. và Universal McCann về B2B (Business-to-Business, tức quan hệ giữa các đối tác kinh doanh), 77 % câu trả lời ở thời điểm này là không hoặc rất ít có tương tác với mạng xã hội. Lý do? Lời giải đáp là họ không thấy sự liên quan hoặc là không hiểu mạng xã hội là gì! Nhưng đến cuối năm 2007, tình hình đã khác. Trong những nhận xét về xu hướng mạng xã hội với B2B, Jody Nimetz đã tổng kết các lợi ích mạng xã hội mang lại cho doanh nghiệp có thể gồm: Tạo sự nhận biết về thương hiệu; công cụ quản lý trên mạng về danh tiếng của công ty; Tuyển dụng; Tìm hiểu về những kỹ thuật mới và về đối thủ cạnh tranh; Công cụ cung cấp thông tin để có thể can thiệp các xu hướng có thể xảy ra trong tương lai.
Trong vài năm gần đây, mối quan tâm đến mạng xã hội trong lĩnh vực kinh doanh cũng tăng lên không ngừng. Các ứng dụng mạng xã hội đã dần rõ nét về tầm ảnh hưởng đến các doanh nghiệp. Là công cụ quản lý quan hệ khách hàng, bán hàng và dịch vụ, quảng cáo bằng banner hoặc các bài viết, các mạng xã hội giúp liên kết mọi người một cách dễ dàng trên qui mô toàn cầu với chi phí thấp hơn so với các chi phí marketing khác. Khái niệm brand networking xuất hiện, dùng để chỉ những mạng xã hội nhiều tính năng (blog, diễn đàn, game, tạo phong trào, tổ chức sự kiện...) do doanh nghiệp tự thiết lập, là nơi tạo dựng quan hệ với khách hàng bằng cách kết nối khách hàng với hình ảnh sản phẩm thông qua cung cấp những nội dung liên quan, yếu tố tham gia, và hệ thống xếp hạng, chấm điểm, cho ý kiến phản hồi về sản phẩm và dịch vụ. Một ứng dụng khác là tuyển dụng nhân tài, mà mạng xã hội nổi tiếng phổ biến trong giới doanh nhân là LinkedIn với hơn 40 triệu thành viên trên 200 quốc gia là một điển hình.
Mặc dù quảng cáo vẫn được đáp ứng "cực tốt" tại Việt Nam (truyền hình vẫn là kênh thông tin quan trọng nhất hiện nay), bạn có nghĩ khách hàng sẽ ngày càng cẩn trọng và giảm bớt tin tưởng vào quảng cáo? Chiến lược marketing truyền thống theo cách đẩy (push) sẽ dần không còn hiệu quả như trước đây (hay hiện nay). Trong khi đó, khách hàng muốn kết nối với bạn bè và gia đình sẽ hướng đến mạng xã hội, nơi chia sẻ mối quan tâm và sự tin cậy. Tương tác với khách hàng, tạo niềm tin, sẽ là chìa khóa thành công cho các chiến lược marketing trong tương lai. Internet, bao gồm mạng xã hội, là một công cụ quyền năng mà không quá tốn kém, giúp doanh nghiệp nhanh chóng "chạm" tới số đông, tới cộng đồng, đặc biệt là giới trẻ. Sâu hơn, mạng xã hội còn giúp doanh nghiệp tiếp cận được đúng đối tượng khách hàng mà họ nhắm đến.
Mạng xã hội là một công cụ quyền năng mà không quá tốn kém, giúp doanh nghiệp nhanh chóng "chạm" tới số đông, tới cộng đồng, đặc biệt là giới trẻ
Đừng là người đến sau
Tại Việt Nam, gần đây báo Tuổi Trẻ đã ghi nhận xu hướng mới "Rộn ràng thành lập hội trên Facebook" với hàng triệu người (90% dưới 30 tuổi) sử dụng Facebook ở Việt Nam kết nối với nhau qua việc lập nhóm.
Nghiên cứu mới đây về người tiêu dùng Việt Nam của công ty TNS trong năm 2010 cũng cho thấy một bức tranh thú vị: 45% người dân sử dụng Internet, đưa Việt Nam đứng hạng 17 trên thế giới tính theo tỉ lệ sử dụng; Internet đã đứng thứ 3, chỉ sau truyền hình và báo in (tỉ lệ online đã cao gần xấp xỉ việc xem báo in). Chưa hết, người Việt dùng khoảng 16 giờ/tuần để lên mạng, và xu hướng này còn tiếp tục tăng thêm. Một nửa cộng đồng online có tham gia mạng xã hội và "sẵn sàng" tiếp nhận thông tin về thương hiệu khi online, tức là những doanh nghiệp có thể nghĩ đến việc vươn đến những khách hàng mục tiêu trong số 15 triệu khách hàng Việt Nam (có "chân dung") nếu chấp nhận "đầu tư" vào marketing trên mạng xã hội. Trong tình hình hiện nay, có lẽ sự kết hợp giữa các phương tiện truyền thông truyền thống (truyền hình, báo...) và mạng xã hội sẽ là phương thức marketing khôn ngoan đối với các nhà kinh doanh.
Đó cũng là lý do vì sao các trường đào tạo đã không ngừng bổ sung những khóa đào tạo như: "Tiếp thị online" hay " Tiếp thị trong thời đại truyền thông xã hội"...
Đừng là "người đến sau" và hãy nghĩ đến khả năng tự tạo ra cộng đồng mạng thích hợp cho sản phẩm và doanh nghiệp của mình. Vấn đề tìm hiểu nhu cầu khách hàng thông qua các mạng xã hội để có định hướng phát triển và tiếp thị cho những sản phẩm có thể không còn là một tùy chọn mà sẽ trở thành một việc bắt buộc trong một tương lai không xa đối với nhiều doanh nghiệp.


Khúc Phổ (Theo Vef)
Đọc thêm »

Quảng bá event thắng lợi nhờ Digital marketing

Một Event muốn thu hút nhiều khách tham dự và nhiều người biết đến cần được quảng cáo rộng rãi. Marketing truyền thống nhằm đưa sự kiện đến cộng đồng đã quá quen thuộc với chúng ta tờ rơi, băng rôn, thiệp mời, quảng cáo báo, banner. Ngày nay chúng ta lại tập quen với những cách thức mới đưa chúng ta tiếp cận đến với sự kiện một cách nhanh nhất mà công nghệ số đã đem lại.
Khác hẳn với marketing truyền thống với yếu tố đo lường, đánh giá hiệu quả đôi khi còn thiếu chính xác và mang tính cảm tính, với Digital Marketing (còn gọi là Internet Marketing, E-marketing hay Online Marketing) chúng ta dễ dàng thống kê phản hồi, quản lý các chương trình quảng cáo trực tuyến với một ngân sách tiết kiệm và mức độ hiệu quả cũng như tính tương tác rất cao.
Heineken countdown party - một event khá thành công bởi đã sử dụng các công cụ Digital marketing để quảng bá, đặc biệt qua mạng xã hội.
Dưới đây xin liệt kê một số công cụ Digital Marketing phù hợp để sử dụng trong việc truyền thông sự kiện rộng rãi đến những người tham dự tiềm năng:
1. Email Marketing
Với cách tiếp cận đơn giản, tiết kiệm chi phí, gửi đến đúng những đối tượng quan tâm, Email marketing là một công cụ hữu ích mà những người làm công tác tuyên truyền, quảng bá sự kiện đang rất ưa chuộng. Tuy nhiên cần lưu ý là Email database bạn chọn lọc càng bám sát đối tượng tham dự tiềm năng thì xác suất thành công của phương pháp này sẽ càng cao.
Chúng ta có thể gởi email bằng cách sử dụng các dịch vụ gởi email miễn phí như Gmail, Yahoo... nhưng các dịch vụ này không cho phép thống kê phản hồi để đo lường hiệu quả, và số lượng email gởi một ngày qua các email này bị giới hạn (Với Gmail không thể gởi quá 200 email/ngày và với Yahoo là 100). Vì vậy thông thường người ta sẽ sử dụng những dịch vụ email marketing chuyên nghiệp cho phép gởi email hàng loạt, tỷ lệ vào Inbox cao với nhiều tính năng cho phép đánh giá, thống kê được hiệu quả đem lại sau chiến dịch như tổng số email được gửi đi, tỉ lệ email bị trả về, tỉ lệ email bị từ chối, tỉ lệ email được mở, mở như thế nào, ở đâu, tỉ lệ click đường dẫn,….Từ đó chúng ta sẽ thống kê được số người quan tâm và lên kế hoạch bán vé,địa điểm,…chuẩn bị cho event.  Hiện nay ở Việt Nam,  một số công ty hỗ trợ dịch vụ gởi email khá tốt như Icontact, Blinkcontact..., người tổ chức sự kiện có thể lựa chọn để sử dụng.
2. SMS Marketing
Công cụ này thường ít sử dụng trong việc quảng bá 1 Event cũng bởi vì sự gây khó chịu cho người nhận và chúng ta cũng thường hay phàn nàn vì tình trạng tin nhắn quảng cáo tràn lan hiện nay nhưng cũng không vì thể mà phủ nhận tính tiện dụng và lợi ích của hình thức này đem lại cho việc quảng cáo vì xác suất người mở tin ra đọc là rất cao (trên 90%) so với các hình thức khác như Email hay Banner quảng cáo.
Bạn có thể sử dụng tin nhắn và thông báo cho khách tham dự tiềm năng về các sự kiện sắp tổ chức nhằm lôi kéo nhiều người tham gia. Hoặc bạn có thể sử dụng để chăm sóc khách hàng đã đăng ký tham dự. Chẳng hạn những ai đăng ký mua điện thoại Nokia C3 đều nhận được tin nhắn thông báo thời gian và địa điểm tham dự sự kiện bán Nokia C3 với giá giảm 500,000 VND.
Bạn có thể tham khảo dịch vụ SMS Marketing của một số công ty có nhiều kinh nghiệm về cung cấp dịch vụ này, thông thường họ sẽ tư vấn và thiết kế giải pháp phù hợp riêng cho sự kiện của bạn: VHT, Fibo SMS...
3. Mạng xã hội
Với lượng người dùng tăng nhanh đến chóng mặt, các mạng xã hội hiện nay( Twitter, Facebook, Cyworld, LinkedIn, Zing, Yume…) đã là một phần không thể thiếu như thể cơm ăn nước uống của cộng đồng mạng.Việc quảng bá sự kiện tại các mạng xã hội này giúp thu hút được một lượng lớn khách tham dự sự kiện cũng như tạo được sự quan tâm của đông đảo cư dân mạng.


Phạm Nguyễn (Theo Eventchannel)
Đọc thêm »

Với sự trợ giúp của Internet, PR có thực sự lên ngôi?

PR (Public Relation) là thuật ngữ chỉ công việc liên quan đến các mối quan hệ công chúng, hay còn được gọi là giao tế.Người phụ trách công việc này thì được gọi là chuyên viên giao tế, chuyên viên quan hệ công chúng (PR Manager)
Nhiều người cho rằng, các nhân viên quan hệ công chúng chỉ thực hiện các hoạt động truyền thông cụ thể như tung ra các bài báo nhằm đánh bóng hình ảnh công ty, sản phẩm hay cá nhân nào đó và trả lời các cuộc điện thoại của giới truyền thông.
Tuy nhiên, trong thời đại ngày nay, khi mà giác quan của con người bị ngập vùi bởi hàng ngàn các lọai quảng cáo và thông điệp xúc tiến thương mại mỗi ngày, quan hệ công chúng đang trở thành một trong những phương thức mạnh nhất để thu hút nhận thức của người tiêu dùng đối với sản phẩm/dịch vụ, kéo họ ra khỏi đám bùng nhùng của hằng hà sa số những quảng cáo lộn xộn đó. Với sự hỗ trợ của nhiều loại công cụ công nghệ cao, PR đang dần dần "lột xác" để chiếm lĩnh thế thượng phong.

Nhiệm vụ chính của những người phụ trách quan hệ công chúng là quản lý hình ảnh của công ty, tổ chức. Xét về mặt kỹ thuật, các nhân viên chuyên về quan hệ công chúng có nhiệm vụ xây dựng sự hiểu biết, nhận thức và tạo ra hình ảnh đẹp cho công ty hoặc khách hàng nào đó. Bằng các thủ thuật nghiệp vụ của mình, các chuyên gia quan hệ công chúng thường tạo ra một câu chuyện (story), một bài báo (article), một sự kiện (event) để rồi lồng vào trong đó các ý tưởng liên quan đến sản phẩm/dịch vụ nhằm thu hút sự quan tâm của người tiêu dùng. Điểm quan trọng nhất trong sức mạnh quan hệ công chúng nằm ở chỗ, PR góp phần thiết lập độ tin cậy của các nhóm khách hàng mục tiêu đối với một sản phẩm, một công ty hoặc một cá nhân nào đó bằng cách tận dụng ảnh hưởng của bên thứ ba - phương tiện truyền thông.
Gần đây, phần lớn ảnh hưởng này được thực hiện thông qua sự tiếp xúc giữa con người với con người - giữa nhân viên phụ trách quan hệ công chúng với đi diện của hãng truyền thông, cụ thể là các nhà báo (báo viết, báo nói và báo hình). Đặc biệt, trong thời đại ngày nay, mạng Internet với các tính năng ưu việt đã ảnh hưởng không nhỏ đếnvai trò và phương thức thực hiện PR. Dưới đây là một số kỹ thuật mới xuất hiện có thể nhanh chóng trở thành công cụ hỗ trợ đắc lực đối với hoạt động quan hệ công chúng trong tương lai gần.
Công cụ tìm kiếm
Trong những năm gần đây, các chuyên gia tiếp thị trực tuyến nhận ra tầm quan trọng của vị trí sản phẩm/doanh nghiệp trong các bảng xếp hạng qua mạng Internet được tìm kiếm nhiều nhất. Trên thực tế, một ngành mới với tên gọi Tối ưu hóa Công cụ Tìm kiếm (Search Engine Optimization - SEO) đã được hình thành khi các chuyên gia công nghệ nhận thấy rằng việc thao túng một số khía cạnh nhất định của trang web có thể tạo ra các thứ hạng cao.
Quan hệ công chúng là hoạt động mà thông qua đó, các phương tiện truyền thông đại chúng sẽ đề cập về các vấn đề lien quan đến tên sản phẩm, tên công ty hoặc tên một cá nhân nào đó. Mục tiêu của người làm PR là quảng bá tên tuổi của công ty, cá nhân thông qua các phương tiện truyền thông mà không phải trực tiếp trả tiền cho phương tiện truyền thông đó. Nói chung, nhiều kịch bản được tạo dựng trên các tờ báo, tạp chí hay trên truyền hình thường được bắt đầu từ gợi ý của nhân viên PR (có thể đó là một cuốn sách, một bài hát, một bộ phim, một sản phẩm hàng tiêu dùng…).
Nếu kịch bản thành công, các phóng viên hoặc biên tập viên sẽ “bám theo” kịch bản đó để viết bài về công ty, hoặc ít nhất là cũng có đề cập đến tên tuổi công ty trong lĩnh vực mà công ty hoạt động. Bằng cách này, công dụng của truyền thông cũng có thể ảnh hưởng đến nhận thức của người đọc về công ty đó. Tại sao vậy? Bởi vì các phương tiện truyền thông đại chúng thông thường được nhìn nhận như là một “trọng tài” , nghĩa là không thiên vị trong việc đưa tin, vì ý kiến về công ty và việc nhắc đến tên công ty không do mục đích tài chính (khác với quảng cáo) mà dựa trên đánh giá của chính cơ quan truyền thông.
Bây giờ chúng ta hãy xem cần phải làm gì để công ty, sản phẩm của bạn lọt vào bảng xếp hạng tìm kiếm nhiều nhất. Khi nhắc đến SEO, phần lớn các chuyên gia tiếp thị cho rằng, đây là một cách quảng cáo qua công cụ tìm kiếm. Thực ra, ở đây có sự khác biệt đáng kể. Các công cụ tìm kiếm lớn, như Google, MSN và Yahoo, không cho phép mua bán thứ hạng. Việc xếp hạng được thực hiện dựa trên tiêu chuẩn đặt ra bởi công cụ tìm kiếm.
Tuy nhiên, cũng như những người phụ trách quan hệ công chúng gây ảnh hưởng đến việc đưa tin trên các phương tiện truyền thông truyền thống, thì các chuyên gia SEO cũng có thể gây ảnh hưởng đến kết quả của chương trình tìm kiếm bằng cách sử dụng các kỹ thuật sao cho một trang web phù hợp với các tiêu chuẩn thường xuyên thay đổi của công cụ tìm kiếm (tức là tối ưu hóa trang web). Xét từ góc độ này, SEO làm đúng điều mà một chuyên viên quan hệ công chúng chuyên nghiệp thực hiện, tức là làm cho “trọng tài” - các trang web tìm kiếm, đưa ra mức đánh giá cao.
RSS – Một phương pháp mới để đưa ra thông điệp quảng cáo
Một xu hướng quan trọng nữa đang thịnh hành hiện nay - đó là việc các chuyên viên PR truyền các thông tin về công ty hoặc sản phẩm của họ thông qua một lọai công nghệ có tên là RSS (Really Simple Syndication). Đây là một loại công nghệ giúp mọi người dễ dàng nhận biết các nội dung mới được đưa lên trang web. Với việc sử dụng chương trình tổng hợp tin (có thể tải về từ mạng hoặc tìm kiếm thông qua các công cụ tìm kiếm theo dõi RSS, chẳng hạn như Feedster), những người quan tâm đến nội dung trong một số trang web nhất định sẽ được thông báo ngay lập tức khi có một nội dung mới, nhờ đó sẽ không phải vào các trang web đó để tìm kiếm thông tin mới.
Mặc dù có các phiên bản khác nhau của RSS, nhưng chương trình cơ bản gồm có nhà cung cấp nội dung, ví dụ như các trang tin tức, trang web công ty,…, từ đó tạo ra các tài liệu RSS mà chúng cung cấp chi tiết chính của nội dung mới như tên nội dung, thông tin tác giả, mô tả và các đường dẫn đến nội dung đầy đủ. Bản chất của công nghệ này cho phép bất cứ ai có liên hệ với RSS sẽ ngay lập tức nhận được chi tiết về nội dung mới.
Nhiều nhà báo và thành viên thuộc các phương tiện thông tin đại chúng khác coi công nghệ này là phương thức thuận tiện để tiếp cận thông tin, đặc biệt khi họ đang theo dõi một ngành nào đó và có thể giám sát các trang web thông tin. Bằng cách thuê bao các nguồn RSS phù hợp, họ có được các thông tin cần thiết nhanh hơn nhiều so với bản thân tự bỏ thời gian tìm kiếm thông tin. Mặc dù công nghệ này mang lại những lợi ích đáng kể, nhưng những người làm PR cần nhận thức được rằng các phương tiện truyền thông vẫn cố gắng để thuê bao nguồn cung cấp RSS. Và để họ thực hiện điều này, nhân viên PR cần phải sử dụng các kỹ năng cổ điển của hoạt động quan hệ công chúng.
Quan sát diễn đàn và kiểm soát tin đồn
Cuối cùng, nhân viên PR nên giám sát chặt chẽ các diễn đàn trang web, nơi mà dòng thông tin và các bài viết do các tác giả giấu tên đăng một cách tự do có thể gây ra nguy cơ rủi ro cho doanh nghiệp. Việc phản hồi ngay các câu bình luận không đúng trên các diễn đàn sẽ giúp công ty dập tắt tin đồn trước khi nó lan rộng ra cộng đồng. Có hàng ngàn các diễn đàn như vậy, nên việc lựa chọn và giám sát một số diễn đàn thuộc ngành của bạn thông qua các công cụ tìm kiếm có thể coi là lựa chọn tốt nhất. Công cụ này có thể là
BoardReader hay Lycos Dicussion.
Bên cạnh đó, bạn còn có một lựa chọn nữa là Google Groups - công cụ cho phép khách hàng tìm kiếm các thông tin được chọn lựa và được đẩy lên nhóm Usenet - cộng đồng trực tuyến lâu năm trên Internet. Không giống như các diễn đàn trên trang web, độc giả có thể tiếp cận với các nhóm Usenet thông qua Google hoặc thư điện tử. Ngoài ra, với sự nổi lên của các dịch vụ trích chọn thông tin trên Internet, các chuyên viên PR còn có thể giám sát các diễn đàn và gửi báo cáo thông qua thư điện tử.


Khúc Phổ (Theo Marketingvietnam)
Đọc thêm »

Thứ Ba, 22 tháng 2, 2011

Viral marketing và những ý tưởng phát tán clip bậc thầy.

Sự bùng nổ thông tin khiến các thương hiệu gặp khó khăn khi thu hút người tiêu dùng và các nhà quảng cáo đang tìm đến con đường mới: tạo chiến dịch được cư dân mạng tự tay phát tán như hiệu ứng lây lan của virus.
Người sử dụng hiện nay có thể tắt banner trên trình duyệt, bỏ qua những trang tiếp thị trên báo giấy và chuyển kênh khi gặp quảng cáo trên TV. Để thành công, các chuyên gia quảng cáo phải thực hiện được chiến dịch hấp dẫn đến mức người xem không những không bỏ qua mà còn chia sẻ cho bạn bè dưới các hình thức truyền miệng, phát tán qua blog, mạng xã hội, tin nhắn nhanh, e-mail...
viral marketing, internet marketing
Thuật ngữ viral marketing được giáo sư Jeffrey F. Rayport ở Trường kinh doanh Harvard (Mỹ) nhắc đến trong bài báo The Virus of Marketing (Quảng cáo kiểu virus) trên tạp chí Fast Company vào tháng 12/1996. Thuật ngữ này sau đó được phổ biến rộng hơn nhờ Tim Draper và Steve Jurvetson, sáng lập công ty Draper Fisher Jurvetson, vào năm 1997.
Viral marketing mô tả chiến thuật khuyến khích lan truyền nội dung tiếp thị đến những người khác. Thông điệp truyền tải có thể là một video clip, truyện vui, flash game, e-book, phần mềm, hình ảnh hay đơn giản là một đoạn text. Các nhà nghiên cứu nhận thấy trung bình mỗi người có hơn 10 mối quan hệ mật thiết, khoảng 150 mối quan hệ xã hội và 500-1.500 các quan hệ lỏng lẻo khác. Vì vậy, các nhà kinh tế đánh giá viral marketing như một giải pháp mới cho ngành tiếp thị trước sự phổ biến của YouTube và trào lưu chia sẻ video trực tuyến.
Để đạt được hiệu quả cao và tránh cảm giác đang xem quảng cáo, người thực hiện chiến dịch phải xây dựng nội dung thật tự nhiên, hài hước, chứa đựng những điều ngạc nhiên, thú vị khiến người xem thích thú đến mức muốn gửi ngay cho bạn bè. Những chiến dịch này có thể gây ra nhiều phản ứng trái chiều với đủ những khen - chê, thán phục - nghi ngờ nhưng vẫn đạt được mục đích ban đầu: càng nhiều người biết đến thương hiệu càng tốt.
Giữa năm ngoái, clip về cú nhảy thần sầu của Bruno Kammerl đã thu hút 1,4 triệu lượt xem trên YouTube trong chưa đầy 1 tuần. Cộng đồng mạng sôi sục trước câu hỏi: "Liệu Kammerl có thể nhảy xa đến thế không?". Sau đó vài ngày, logo của Microsoft xuất hiện trên website của Kammerl và công ty truyền thông MRM ở Đức thừa nhận đây chỉ là một chiến dịch viral marketing được dàn dựng chu đáo nhằm quảng bá cho Microsoft Office Project 2007.
viral marketing, internet marketing,samsung omnia
Quảng cáo Samsung Omnia
Để giới thiệu điện thoại Omnia HD, Samsung - bậc thầy trong việc thực hiện các chương trình marketing - đã tung ra clip độc đáo: một người đang quay video bằng smartphone thì điện thoại bỗng nhiên biến mất nhưng anh này vẫn tiếp tục ghi hình và đố người xem anh ta đã làm thế nào. Lập tức, chương trình thu hút đông đảo người tham gia giải đố.
Hoặc công ty chuyên sản xuất máy xay sinh tố Blendtec giờ đây đã nổi tiếng với cả giới công nghệ, đặc biệt là người sử dụng sản phẩm Apple, qua chiến dịch Will it Blend? - gây sốc cho người xem khi xay nát iPhone, iPad... rồi quay video và tung lên mạng.
Ông Nguyễn Việt Dũng, Giám đốc công ty IDEE và là giảng viên Viện đào tạo BMG, cho biết xu hướng viral marketing chính thức du nhập vào Việt Nam năm 2008 với chiến dịch Tìm em nơi đâu của nhãn hàng Close Up.
viral marketing, internet marketing,closeup, tìm em nơi đâu

Xem clip Tìm em nơi đâu
Dựa trên clip Chuyện tình New York, Tìm em nơi đâu kể về một chàng trai nhút nhát trong tình yêu nên đã đánh mất cơ hội làm quen với một cô gái. Chàng quyết tâm tìm người ấy bằng mọi cách: viết blog, làm clip, dán tờ rơi... Mọi chuyện diễn ra tự nhiên và nhận được sự đồng cảm của cộng đồng. Sau đó, Close Up tham gia cuộc tìm kiếm như một lẽ tự nhiên để nâng tầm câu chuyện. Chiến dịch này thực sự gây sốt trên mạng với hơn 3 triệu lượt xem và đạt giải Bạc của Hiệp hội tiếp thị châu Á (AMA).
Ngoài ra có thể kể đến clip Vọng cổ Teen 2: Vọng cổ Geisha khai thác độ "hot" của hiện tượng hát nhép Don Nguyễn để quảng bá rất thành công cho thương hiệu Sony Erricson.
viral marketing, internet marketing,don, sony

Xem clip Vọng cổ Teen 2: Vọng cổ Geisha
Tuy nhiên, cộng đồng tham gia viral marketing ở Việt Nam còn rất hiếm. Để phát triển và tìm kiếm những tài năng mới trong lĩnh vực này, một cuộc thi mang tên The Viral Challenge đã xuất hiện vào tháng 11/2010 do 2 công ty Eduwise và Climax Interactive phối hợp tổ chức và Viện đào tạo BMG, ngân hàng ACB tài trợ. Cuộc thi dự kiến sẽ kéo dài từ tháng 11/2010 đến tháng 1/2011. Đội giành chiến thắng sẽ nhận được những phần thưởng như tiền mặt, học bổng về marketing ứng dụng và digital marketing của trung tâm BMG và cơ hội được tuyển dụng vào ngân hàng ACB.
"Ở Việt Nam, viral marketing còn mới mẻ nhưng đang thu được kết quả tốt. Đối với những ai yêu thích sự sáng tạo thì đây là thử thách đầy hấp dẫn. Thời gian tới, VN chắc chắn sẽ xuất hiện nhiều chiến dịch với quy mô và chất lượng vượt trội, nhưng điều đó còn phụ thuộc vào sự đầu tư nghiêm túc của các nhãn hàng và các công ty làm quảng cáo", ông Dũng nhận định.
8 chiến dịch viral marketing xuất sắc
1. Will it Blend?
Mỗi clip xay nát iPhone 4, bóng golf... của Blendtec thu hút hàng triệu lượt xem.
2. Diet Coke + Mentos Explosions
13 triệu người xem 2 "nhà khoa học" tạo vụ nổ khi trộn Mentos và đồ uống Diet Coke với nhau.
3. Dove Evolution
Trong 1 phút, một phụ nữ bình thường trở nên lộng lẫy nhờ phần mềm chỉnh sửa ảnh. Chiến dịch "Vẻ đẹp đích thực" của Dove hiện đã thu hút vài chục triệu view.
4. Guys Backflip Into Jeans
Chiến dịch của hãng Levis được quay "nghiệp dư" để trông như clip do người dùng tự tạo, trong đó một số người mặc quần bằng cách nhảy vào 2 ống.
5. Sony Bravia
Loạt quảng cáo Sony HDTV rất được yêu thích trên mạng, kể về sự xuất hiện của những chú thỏ gốm ở New York với kỹ xảo time-lapse và stop-motion.
6. Evian Live Young - Baby Roller
Evian sử dụng công cụ "câu view" hữu hiệu: những đứa trẻ dễ thương được tạo ra từ công cụ đồ họa máy tính.
7. Kobe Jumps Over a Speeding Car
Video quay ngôi sao bóng rổ Kobe Bryant nhảy qua xe Aston Martin cũng được quay "nghiệp dư" nhưng nổi bật lên là logo và đôi giày Nike.
8. Bruno Kammerl Jumps
Microsoft Đức quảng cáo gói sản phẩm Office Project 2007 bằng cú nhảy thần sầu mà nhiều người khẳng định là giả mạo của Bruno Kammerl. 
< Theo VnExpress.net >
Đọc thêm »