ADS 468x60

Hãy sống như hôm nay là ngày cuối cùng.

Luôn nhớ rằng tất cả chỉ là bắt đầu...

Thứ Sáu, 4 tháng 3, 2011

Những chiến lược marketing “độc nhất vô nhị”

Có rất nhiều chiến lược Marketing khác nhau, nhưng có lẽ chỉ những chiến lược marketing độc đáo nhất mới phát huy hết vai trò thực sự trong việc thu hút khách hàng. Điều này đòi hỏi mỗi doanh nhân cần có sự phân tích, nghiên cứu kỹ thị trường và điều quan trọng là có chút ít “sự thông minh”.

1. Phỏng theo các món ăn hoàng đế đã ăn

Đó là cách mà nhà hàng Hasvey nằm tại bang California, Mỹ, do một người Trung Quốc làm chủ đã thực hiện hàng chục năm nay. Các món ăn ở đây kinh doanh hoàn toàn phỏng theo phương pháp làm các món ăn trong cung đình của các hoàng đế Trung Quốc. Ở nhà hàng này luôn chú ý đến tâm lý khách hàng. Khách hàng luôn có tình cảm thần bí, ngưỡng mộ, bắt chước nào đó đối với các hoàng đế. Đặc biệt là những người dân phương Tây, họ rất có hứng thú đối với các món ăn hoàng đế Trung Quốc đã từng ăn. Thậm chí để tăng thêm cảm giác thần bí của các món ăn trong cung đình, nhà hàng còn sưu tầm thêm rất nhiều truyền thuyết về các món ăn cung đình, tập hợp thành những câu chuyện hấp dẫn ly kỳ, sau đó các nhân viên nhà hàng lại giới thiệu mỗi khi phục vụ khiến cho khách hàng nghe xong cảm thấy thêm phần hứng thú.

Mới đây, thị trưởng thành phố Washington, Mỹ đã tổ chức buổi tiệc tại nhà hàng này. Các nhân viên phục vụ bê lên một đĩa thức ăn và không quên giới thiệu rằng: “Có một lần Từ Hy Thái Hậu trong giấc ngủ mơ thấy ăn bánh nướng thịt băm. Sáng sớm hôm sau cũng vừa vặn người đầu bếp cũng chuẩn bị bánh nướng thịt băm. Hoàng hậu nghĩ rằng đây là điềm lành may mắn như ý. Món bánh nướng mà hôm nay các vị ăn chính là món bánh nướng thịt băm ấy đấy. Mong cho mọi người ăn món này vạn sự như ý, luôn luôn may mắn”. Lời cô phục vụ vừa dứt đã dẫn đến những tràng vỗ tay không ngớt khiến ông thị trưởng Washington và quan khách rất xúc động. Vị thị trưởng vui mừng bày tỏ rằng: “Lầm sau nếu đến California tôi nguyện sẽ lại đến chỗ các bạn”.

Chính cách kinh doanh tuyệt với đó đã khiến cho nhà hàng tiếng tăm lừng lẫy, khách từ nhiều nơi đổ về đây để thưởng thức.

2. Đồng tiền gặp may

Từ lâu không chỉ ở châu Á mà ở cả các nước Anh, Mỹ, người ta tin rằng nếu bỏ một số đồng tiền vào ví tiền mới thì sẽ gặp may. Tận dụng điều này, một cửa hàng bán lẻ của Mỹ đã thường xuyên bỏ vào mỗi ví và túi xách của cửa hàng mình một đồng 6 cent, đồng thời in thêm dòng chữ sau đây vào danh thiếp “có lẽ cách làm của chúng tôi hơi cổ lỗ những cầu chúc bạn gặp nhiều may mắn”. Chi phí cho việc quảng cáo này chẳng đáng là bao nhiêu, nhưng túi xách, ví tiền đã bán chạy nhanh chóng khiến cho cửa hàng trở nên nổi tiếng. Còn vị trưởng quầy đó lập tức được thăng chức vụ cao hơn.

3. Cửa hàng tự động giảm giá

Trên một đường phố ở Mỹ có một toà nhà 8 tầng gắn chữ “Phrin” toà nhà này chính là công ty bán lẻ Phrin. Ở cửa hàng này có một cách tiêu thụ đặc biệt là tự động giảm giá cho các loại hàng hoá, phương thức là: hàng hoá của cửa hàng này đều được tự động hạ giá theo thời gian. Sau 1 tháng có thể hạ xuống số 0 có nghĩa là đem tặng hoặc làm từ thiện. Mỗi một thứ hàng bày bán trong cửa hàng này bên cạnh biển giá còn có biển ghi ngày tháng bắt đầu bán. Trong vòng 12 ngày kể từ ngày bán đầu tiên hàng được bán nguyên giá, nếu hàng này không bán được thì từ ngày thứ 13 trở đi tự động giảm giá 25%, nếu hàng có giá trị là 200 USD thì chỉ còn 150 USD. Qua 6 ngày nữa mà vẫn không bán được thì giảm tiếp 25 giá nữa tức là 50% so với giá bán ban đầu, nếu hàng gốc là 100 USD thì giờ chỉ thu 50 USD. Lại qua 6 ngày nữa hàng này vẫn không bán được thì giảm tiếp 25% giá nữa tức là 75% so với giá bán ban đầu. Như vậy, hàng giá 100 USD giờ chỉ thu 25 USD. Lại qua tiếp 6 ngày cuối cùng của tháng nếu vẫn chưa không có người mua thì hàng này đem tặng cho các tổ chức từ thiện xử lý.

Chính cách bán hàng tự động hạ giá như vậy của công ty này đã chứng minh rằng hoạt động kinh doanh của họ rất thành công. Khách hàng đến với cửa hàng lúc nào cũng đông nườm nượp. Sẽ có vấn đề đặt ra rằng, giả sử nếu khách hàng nào cũng chờ đến khi hạ giá mấy mức giá mới mua thì của hàng sẽ lỗ vốn mất. Song các nhân viên cửa hàng đều giải thích rằng: đa số khách hàng chỉ đợi giảm giá đợt 1 là đã đổ xô đến mua, không ai dám chờ đến đợt khác, bởi vì nếu hạ giá mà không mua thì sợ người khác sẽ mua lại mất. Vì thế không ai bảo ai, họ tranh nhau các hàng hoá ở đây.

4. Lợi dụng hiệu ứng ảnh hưởng dây chuyền

Một cửa hàng ở Pháp bán các đồ gỗ nội thất, thế những suốt ba tuần kể từ ngày khai trương cửa hàng không có khách hàng nào biết đến cửa hàng. Ông chủ cửa hàng bèn tìm đến John Smith, một chuyên gia nổi tiếng về kiến trúc nội thất nói rằng: Cửa hàng tôi có nhiều đồ gỗ nội thất những suốt ba tuần qua chẳng có khách hàng nào đoái hoài đến, nay nhờ ông giúp đỡ, ông cứ đi vài vòng xung quanh cửa hàng tôi, trước khi bỏ đi thì quay đầu nhìn lại, tôi sẽ trả phí tổn cho ông trong các ngày đó”.

Smith đồng ý làm theo lời thỉnh cầu này của ông chủ cửa hàng. Smith vốn là một chuyên gia nổi tiếng về nội thất gia đình, nay mọi người thấy Smith xuất hiện mấy ngày liền cứ vòng đi vòng lại cửa hàng, nhìn nhìn, ngó ngó, trước khi rời đi lại quay đầu lại nhìn một cách ra vẻ tiếc rẻ khiến cho lập tức ai cũng đến xem bình phẩm đồ gỗ nội thất của cửa hàng. Lập tức cửa hàng không những tiêu thụ mạnh sản phẩm của mình mà giá cả còn tăng lên đáng kể.

Điều này chứng tỏ ông chủ cửa hàng là người rất giỏi thuật bán hàng, ông ta đã biết lợi dụng ảnh hưởng của người nổi tỉếng am hiểu về đồ gỗ nội thất trên thị trường khiến sản phẩm của cửa hàng bán được nhiều, giá lại cao.

                                                                              < Theo DiaOc24g.com >

Đọc thêm »

Nghệ thuật “móc túi” của các marketer

Tại sao cứ vào một trung tâm mua sắm, khi ra, bạn lại mua một món gì đó? Tại sao phụ nữ luôn bị các gian hàng làm cho mê mẩn và không tiếc tiền để mua hàng? Đó chính là nghệ thuật “móc túi” của các marketer.

Phụ nữ thích shopping cũng như đàn ông nghiền xem đá bóng. Tại sao chúng ta thích mua sắm đến thế, nhất là phụ nữ? Vui cũng mua sắm, buồn cũng mua sắm và không vui, không buồn cũng mua sắm luôn. Có rất nhiều lý do khiến phụ nữ bước chân vào các khu trung tâm thương mại. Như một thường lệ, phụ nữ hễ bước chân vào khu mua sắm, khi ra, họ phải cầm theo một món gì trên tay. 



Thoạt đầu, mục đích của họ có thể là đi ngắm đồ, nhưng đến khi về lại khệ nệ tay xách nách mang. Chính vì thế, hầu như các quảng cáo trên tạp chí, ngoài trời và trong các trung tâm mua sắm đều tập trung vào đối tượng chính là nữ giới.

Các trung tâm thương mại không tiếc tiền vào khoản thiết kế, trưng bày gian hàng cũng như nghiên cứu tâm lý mua hàng của khách hàng. Ngày trước, chất lượng sản phẩm là chính. Ngày nay, với mức độ cạnh tranh khốc liệt trên thương trường cũng như yêu cầu ngày càng cao của khách hàng, một thương hiệu muốn đứng vững càng quan tâm hơn đến tâm lý của các thượng đế.

Pamela N.Danziger, tác giả cuốn sách Shopping: Why We Love It and How Retailers Can Create the Ultimate Customer Experience đã đưa ra công thức để tính khả năng mua hàng của khách:

P = (N+F+A) x E2.

P có nghĩa là propensity, thiên hướng mua hàng của khách được quyết định bởi các yếu tố need (nhu cầu), features (kiểu dáng và đặc tính của sản phẩm), affordability (khả năng đáp ứng về mặt giá cả) và cuối cùng là emotion (cảm xúc, tình cảm). Trong khi các yếu tố khác chỉ chiếm một phần, emotion lại nghiễm nhiên nhân bình phương, chứng tỏ mức độ quan trọng của nó.

Mỗi người có một niềm đam mê khó cưỡng lại với mỗi món hàng đặc biệt, hay có thể gọi đó là điểm yếu của chúng ta. Chẳng hạn, các bé gái chết mê chết mệt búp bê Barbie, có bao nhiêu cũng không thấy đủ. Các cậu con trai cứ dính chặt vào các máy chơi điện tử, nào là PSP, Xbox 360, Nintendo Wii… Cứ như một thói quen, hễ đi shopping là người ta phải mua về đúng món hàng ấy.

Nói cho dễ hiểu, nếu như bạn là một nhạc sĩ, thế nào bạn cũng bị cuốn hút vào gian hàng bán nhạc cụ hoặc những gì liên quan đến âm nhạc.

Các shopaholic (tín đồ shopping) cũng vậy, mỗi người có một đam mê riêng, như tôi chẳng hạn. Đến khi mua sắm, tôi lại sà vào hàng mỹ phẩm, ngắm tới ngắm lui các màu mắt, màu son hoặc sơn móng tay mới. Dù chỉ thỉnh thoảng mới sơn móng tay hoặc cuối tuần đi chơi, đi tiệc mới trang điểm, nhưng tôi vẫn cứ thích mua thêm về thật nhiều, nhìn cứ như bộ sưu tập.

Tôi còn một niềm đam mê khác nữa là giày. Để giải thích rõ công thức P = (N+F+A) x E2 trên, tôi lý giải việc mua đôi giày bảy phân cổ cao màu đen, dạng gladiator (giày có nhiều dây) đính hạt lấp lánh.

Đầu tiên, xét về mặt nhu cầu, liệu tôi có cần đôi giày này đến mức không thể thiếu nó không? Chắc chắn là không, vì tôi cũng có đôi giày gladiator tương tự, chỉ khác kiểu dây và đính nút sắt thay vì đá lấp lánh. Nếu xếp theo thang điểm, nhu cầu của tôi chắc chắn chỉ bằng 0.

Tuy nhiên, đôi giày nằm kiêu hãnh như một nàng công chúa trên kệ trưng bày của cửa hàng Nine West khiến tôi không thể không dừng bước. Kiểu giày rất tinh tế, ngoài những sợi dây đính đá khéo léo kết lại với nhau, ngay cả phần lưới trên thân giày cũng được dát một lớp đá tấm dạng nhuyễn.

Hơn nữa, kiểu giày hở mũi không quá bó chân này sẽ khiến việc đi lại dễ dàng hơn. Cho dù có đi party, dancing, tôi cũng không phải nhăn nhó, liên tục tháo giày vì đau chân. Từng viên đá bắt sáng lóng lánh dưới ánh đèn khiến tôi lập tức liên tưởng sẽ kết hợp nó với chiếc đầm đen xếp nếp, cổ xẻ sâu và bộ trang sức bằng đá Swarovski mới mua.

Những ý nghĩ đó cứ liên tục nối tiếp nhau khiến tôi bước vào cửa hàng và cầm đôi giày lên như trong vô thức. Đôi giày quá đẹp, không còn chê vào đâu được.

Vấn đề quan trọng bây giờ là phần giá cả. Tôi thầm nghĩ nếu đôi giày này dưới hai triệu đồng, chắc chắn tôi sẽ mua ngay lập tức. Nếu từ hai triệu đến ba triệu đồng, tôi sẽ mang thử và quyết định sau. Còn nếu cao hơn nữa, có lẽ tôi không mua, để dịp khác, bởi vì của đáng tội, tôi mới mua hai đôi giày tuần trước và còn chưa kịp bóc tem.

Cảm xúc, khả năng chi trả và thái độ của nhân viên bán hàng

Có thể thấy nguyên tố quan trọng quyết định việc mua hàng của tôi chính là cảm xúc tôi dành cho nó. Cho nên dù nhu cầu rất thấp, nhưng kiểu dáng của đôi giày đã đẩy cảm giác muốn sở hữu của tôi lên cao.Chỉ số tình cảm tôi dành cho đôi giày khiến trong mắt tôi, những viên đã sang như kim cương, kiểu dáng của nó thêm phần thanh tao và hoàn hảo. Chỉ số tình cảm sẽ đẩy mạnh nhu cầu nếu như sau khi tôi thử đôi giày và thấy nó hoàn toàn khác hẳn những đôi tôi đã có.

Thêm một cú knock-out cuối cùng là tôi đủ khả năng mua đôi giày này. Thú thật, cho dù nếu lúc đó tôi không đủ tiền, đôi giày đẹp ấy sẽ cứ ám ảnh tâm trí tôi mãi, thôi thúc tôi quay trở lại và mua bằng được mới thôi. Đó chính là tâm lý chung của các shopaholic.

Chỉ số tình cảm ở đây còn chịu ảnh hưởng từ thái độ của nhân viên bán hàng. Nếu họ tận tâm và nhiệt tình phục vụ khách hàng hơn. Còn nếu họ tỏ thái độ khinh khỉnh, với kiểu nhìn như đặt câu hỏi: “Có đủ tiền không mà đòi mua hàng?, có lẽ dù thích đến mấy, tôi sẽ bước ngay ra khỏi cửa hàng. May cho tôi (hay là không may?), cô nhân viên có nụ cười dễ mến hôm ấy rất nhiệt tình giúp tôi thử giày. Thế là dĩ nhiên, không còn lý do gì khiến tôi phải chần chừ."

Có thể thấy khi phụ nữ đã bước chân vào cửa hàng mua sắm, những suy nghĩ, tính toán, logic của bán cầu não trái sẽ nhường chỗ hẳn cho nguyên tố chi phối, đó là tình cảm – emotion. Dĩ nhiên, những nguyên tố khác như nhu cầu, kiểu dáng, túi tiền cũng góp phần thêm vào, theo công thức nêu trên: 1+1+1 = 3. Trong khi đó, tình cảm có hiệu quả nhân bình phương: (1+1+1) x 52 = 75.

Đáp ứng và thỏa mãn nhu cầu của tất cả khách hàng

Các trung tâm mua sắm nắm rất rõ những nguyên tố chi phối quyết định mua hàng ngày này của khách. Yếu tố đầu tiên, nhu cầu khách hàng thuộc về mặt cá nhân của từng người và rất đa dạng. Mỗi người có một nhu cầu khác nhau. Có người muốn mua nữ trang, mỹ phẩm, có người muốn mua vật dụng gia đình, có người cần bộ đầm dạ hội để đi tiệc cưới. Do đó, các marketer rất khó tác động trực tiếp đến nhu cầu.

Tuy nhiên, chính nhu cầu ấy lại là điều kiện kéo khách hàng đến các trung tâm mua sắm. Vì thế, chỉ còn cách là có càng nhiều mặt hàng mua sắm càng tốt, để có thể đáp ứng và thỏa mãn nhu cầu của tất cả khách hàng và nam phụ đến lão ấu.

Chẳng hạn, một gia đình gồm đôi vợ chồng và cô con gái đi mua sắm, mỗi người đều có sở thích riêng. Còn gì bằng nếu cả gia đình đều được thỏa mãn nhu cầu cùng lúc: cô con gái mua búp bê Barbie mới, ông bố tậu chiếc laptop gọn nhẹ, cần thiết cho những công tác xa, còn bà mẹ hoàn toàn hài lòng với chai nước hoa Channel No5 ngọt ngào.

Do đó, các trung tâm mua sắm lớn ở nước ngoài thường chia thành nhiều khu vực như: lady’s wear, kid’s wear, for men, electronic, food court, housewares… với đa dạng sản phẩm để khách hàng có thêm nhiều lựa chọn.

Nghe, nhìn, ngửi và cảm giác

Các marketer chú trọng tập trung vào các giác quan của khách hàng, nhất là thính giác, thị giác, khứu giác, xúc giác. Trước hết, sảnh vào luôn được trang trí bắt mắt từ ngoài vào trong, nhất là vào các dịp lễ. Hệ thống ánh sáng luôn được đầu tư kỹ càng. Cũng cùng một gian hàng, một sản phẩm nhưng thiếu đi hệ thống ánh sáng, giá trị của món hàng sẽ giảm hẳn.

Âm nhạc đóng vai trò quan trọng không kém. Một số nghiên cứu cho rằng thể loại nhạc nhẹ nhàng, vừa phải khiến khách hàng thư thái khi đi shopping và có nhiều thời gian ngắm nhìn, chọn lựa sản phẩm hơn. Do đó, âm thanh được chọn lọc kỹ. Thể loại nhạc nhanh, tiết tấu mạnh phù hợp hơn với những gian hàng dành cho giới trẻ.

Tầng một ở các trung tâm thương mại như Diamond Plaza hoặc Opera View luôn là nơi trưng bày của các thương hiệu thời trang nổi tiếng cao cấp như Salvatore Ferragamo, Furla, Burberry, Cartier, Louis Vuitton… Ngoài ra còn có trang sức và mỹ phẩm với những poster quảng cáo của những cô người mẫu đẹp mê hồn. Những món thuộc hàng xa xỉ phẩm này nâng tầm nhu cầu lên thành một yếu tố tâm lý khác, đó là một thế giới của khát khao và mơ ước.

Tôi muốn sở hữu chiếc túi xách Versace màu đen sang trọng kết hợp với chiếc áo trench coat của Burberry. Tôi ao ước có được vẻ đẹp chết người cả Catherine Zeta-Jones với đôi môi gợi cảm như quảng cáo của Elizabeth Arden. Hương thơm dịu dàng, ngọt như kẹo của Lolita Lempicka hay mùi hoa hồng của BVLGARI, gỗ đàn hương ấm áp của Issey Miyake khiến các shopaholic khó lòng làm ngơ. Những hình ảnh đẹp đẽ và hương thơm quyến rũ ấy kích thích quyết định mua hàng rất cao.

Một người bạn của tôi, khi đi shopping lại rất thích cầm nhiều túi xách to nhỏ mà không chịu để dồn vào chung một túi cho gọn. Lý do của cô là chỉ để mọi người trông thấy mình mua được nhiều món đồ ưng ý như thế nào.

Cô bảo: “Cái cảm giác được mọi người nhìn theo, trầm trồ thật thú vị. Các cô bán hàng dường như cũng hiểu được khả năng shopping của mình nên phần nào đon đả và ngọt ngào hơn. Hơn nữa, các túi xách bây giờ nhìn rất sang chứ không phải túi xốp hay bao giấy như trước đâu mà phải giấu giấu giếm giếm”.

Quà tặng và mua hàng giảm giá

Có thể thấy, kiểu dáng và chất lượng sản phẩm thôi vẫn chưa đủ. Đã đẹp phải đẹp từ trong ra ngoài. Đó cũng là lý do ngày càng nhiều thương hiệu đầu tư vào thiết kế túi đựng hàng mang dấu ấn của riêng mình. Đây cũng là một phương pháp quảng bá thương hiệu có hiệu quả.

Một tuyệt chiêu nữa mà các trung tâm thương mại luôn chú trọng: quà tặng và mua hàng giảm giá. Có người phụ nữ nào không thích được tặng quà? Có người phụ nữ nào không thích được giảm giá? Hễ nghe ở đâu có giảm giá, big sale, thế là một đồn mười, mười đồn trăm, các quý bà quý cô ùn ùn đổ về trung tâm mua sắm như trẩy hội. Những điều kiện như mua hai tặng một, tặng phiếu giảm giá, mua sản phẩm trị giá hơn một triệu đồng sẽ được tặng sản phẩm đi kèm… luôn khiến phụ nữ hào hứng vì mua được món hời.

Cô bạn tôi từng mua hộp kem dưỡng mắt Estee Lauder vì muốn nhận được quà tặng là bộ trang điểm mini và ba chiếc túi nhỏ xinh xắn. Tôi mua thêm hai chiếc áo của Marc by Marc Jacobs chỉ để được tặng chiếc túi vải màu đỏ, trong khi mục đích vào đây là mua một chiếc quần trắng. Vâng, chỉ là một chiếc quần trắng thôi.

Biết bao người như tôi hay bạn tôi, mua thêm sản phẩm vì lời nói ngọt như mía lùi của cô bán hàng: “Chị ơi, chị đã mua được chừng này rồi, chỉ còn một chút xíu nữa là được quà tặng. Quà này là hàng limited item đấy. Hay là chị cứ mua thêm một sản phẩm nữa cho đủ điểm nhé?”. Hai chữ “quà tặng” cứ như một thứ vũ khí mật chuyên dùng để đánh trúng điểm yếu của phái nữ.

Nói đến yếu tố tâm lý khách hàng được các trung tâm mua sắm khai thác thế nào, còn lâu mới kể hết. Họ quan tâm và không tiếc tiền đầu tư từng chi tiết nhỏ, cách phối màu, sắp xếp gian hàng, âm thanh, ánh sáng nhằm thu hút khách mua hàng. Chẳng trách các shopaholic hễ đến các khu thương mại là như bị bỏ bùa mê, cứ việc máy móc cà thẻ hoặc trả tiền một cách không thương tiếc. Đơn giản, mục tiêu của các shopping center là khiến chúng ta “shop till you drop”.
Đọc thêm »

Khuyến mãi, nhìn từ góc độ quản trị thương hiệu



Khuyến mãi, nhìn từ góc độ quản trị thương hiệuNhiều doanh nghiệp xem khuyến mãi không chỉ là công cụ kích thích tiêu dùng, tăng doanh số bán hàng mà còn là một hoạt động marketing, cảm ơn khách hàng và xây dựng hình ảnh thương hiệu.

Tuy nhiên, không ít chương trình lại phản tác dụng khi doanh nghiệp không kiểm soát được khuyến mãi.

Cuối tháng 5/2009, Công ty Samsung Vina tổ chức chương trình khuyến mãi “Crazy Sale” cho khách hàng mua điện thoại cảm ứng SamsungStar chỉ với giá 9,99 USD. Tuy nhiên, do không lường trước sự cố, chương trình đã trở nên một cuộc chen lấn, xô xát giữa hàng trăm khách hàng. Chưa kể, khách VIP muốn mua hàng còn phải qua một hành trình xếp hàng tìm vận may qua màn hình cảm ứng khiến họ có cảm giác bị hành và lừa dối.

Trước đó, hàng ngàn người dân tại Tp.HCM cũng đã chen lấn, giành giật nhau vào trung tâm thương mại Parkson trên đường Lê Thánh Tôn (quận 1) để tham gia “Lễ hội mua sắm VIP” do Parkson và Sacombank tổ chức, với hy vọng mua được nhiều hàng giảm giá và nhận quà tặng từ lễ hội. Tuy nhiên, rất nhiều người đã phải tức giận bỏ về vì phải chen lấn hỗn loạn, nhất là khi đổi thiệp VIP lấy được 4 phiếu quà tặng trị giá 150.000 đồng, khách hàng cứ đinh ninh sẽ được giảm giá 600.000 đồng hoặc nhận quà tặng trị giá tương đương nhưng rồi chẳng có gì.

Trong các trường hợp trên, ứng phó của doanh nghiệp thường là ngưng chương trình, sau đó gửi thông điệp xin lỗi khách hàng cùng lời hứa sẽ bồi thường thiệt hại hoặc gửi quà tặng cùng phiếu mua sắm. Dù vậy thì thương hiệu của họ cũng đã để lại ấn tượng không tốt trong lòng người tiêu dùng.

Nhiều khách hàng bức xúc: “Lâu nay, nghe tên Samsung, Parkson, là những công ty lớn, chúng tôi rất tin tưởng, đâu nghĩ họ coi thường khách hàng và thương hiệu của mình như vậy”. Về phía doanh nghiệp cũng thừa nhận, việc tổ chức các chương trình khuyến mãi đều nhằm mục đích tri ân khách hàng thân thiết, tạo sự gần gũi giữa thương hiệu với người tiêu dùng, nhưng do không lường trước số người tham dự và nhiều sự cố khác.

Khuyến mãi có thể được sử dụng để đạt được nhiều mục đích: gia tăng doanh số, xây dựng thương hiệu, làm sôi động trị trường cạnh tranh, thu hút nhiều khách hàng mới... Hiệu quả của chương trình khuyến mãi được đánh giá bằng cách so sánh, đối chiếu số tiền bỏ ra với sự thành công của nó.

Trong bối cảnh thị trường có chương trình kích cầu hiện nay, khuyến mãi đang diễn ra sôi động và dường như trở thành một thứ văn hóa bán hàng. Tuy nhiên, do không kiểm soát được, nhiều chương trình lại ảnh hưởng xấu đến văn minh thương mại.

Theo ông Đoàn Đình Hoàng, chuyên gia tư vấn thương hiệu: “Trước khi tung ra chương trình khuyến mãi, doanh nghiệp cần xác định mục tiêu, sau đó chọn lựa hình thức phù hợp như giảm giá, tặng quà, đổi hàng, tặng phiếu... Thông thường, những diễn biến không đáng có xảy ra trong khuyến mãi không lường được nên phải có người chuyên trách để giải quyết nhanh tình huống.

Cần biết, một chương trình khuyến mãi thành công không phải là số lượng người đến mà là chất lượng sản phẩm đưa ra và sự hài lòng của khách tham dự. Với những doanh nghiệp có lợi thế, đã định vị là thương hiệu cao cấp trong tâm lý khách hàng thì không nên khuyến mãi. Bởi nếu khuyến mãi bằng hình thức giảm giá, doanh nghiệp tự đi ngược lại chiến lược phát triển của mình, tự hạ thấp giá trị sản phẩm, giá trị thương hiệu”.

Một doanh nghiệp sản xuất hàng thực phẩm chế biến thừa nhận: “Do thường xuyên đưa ra chương trình khuyến mãi để tiếp thị sản phẩm nên hiện nay, đa số khách hàng có thói quen chờ mua hàng giảm giá hoặc khuyến mãi từ công ty. Do đó, sản phẩm của chúng tôi đang trong tình trạng phải giảm giá và giảm luôn giá trị thương hiệu, trong khi tiêu chí ban đầu là hướng đến sự cao cấp”.

Ở góc độ quản trị, ông Lưu Nhật Huy, Giám đốc điều hành Viện Phát triển Quản trị và Công nghệ mới (IMT) chia sẻ: “Khi thực hiện khuyến mãi, các doanh nghiệp cần chú ý đến khách hàng mục tiêu, xem họ thích khuyến mãi theo hình thức nào (quà tặng, giảm giá, rút thưởng...) và định vị thương hiệu để thiết kế chương trình cho đúng, chứ không nên phản ứng kiểu “đối thủ làm một ta làm gấp đôi.

Thứ hai, thông tin khuyến mãi phải ghi rõ thời gian, giá trị và đối tượng thực hiện để tránh phản cảm khi người tiêu dùng đến rồi hậm hực ra về vì thấy mình bị lừa. Vì vậy, khi thực hiện khuyến mãi, các doanh nghiệp nên cẩn thận để cân bằng giữa chi phí và chất lượng sản phẩm, hay nói rộng hơn là lợi ích của người tiêu dùng”.

* 9 tháng đầu năm, Bộ Công Thương đã xác nhận đăng ký trên 250 chương trình khuyến mãi thuộc thẩm quyền xử lý của Bộ với tổng giá trị giải thưởng đăng ký trên 370 tỷ đồng.



                                                                                                                                                 < Theo Vneconomy >
Đọc thêm »

Thương hiệu mạnh Việt Nam qua lăng kính nghiên cứu thị trường

Thương hiệu mạnh Việt Nam qua lăng kính nghiên cứu thị trườngQua lăng kính quan sát của một người làm nghiên cứu thị trường và số liệu khảo sát thực tế, ông Ralf Mattheas, Giám đốc điều hành Công ty nghiên cứu thị trường TNS Vietnam đã tổng kết những thương hiệu phát triển nhanh và mạnh nhất tại Việt Nam trong năm 2007 cùng một số dự báo trong năm 2008 này. Việc hòa nhập vào Tổ chức thương mại thế giới (WTO) của Việt Nam năm 2007 được xem như là lần đầu tiên đưa các nhãn hiệu Việt Nam đứng ngang hàng với các nhãn hiệu quốc tế.

Trên cơ sở đó, Công ty nghiên cứu thị trường TNS Vietnam đã tiến hành xem xét các nhãn hiệu trong ngành hàng tiêu dùng luân chuyển nhanh (FMCG) ở Việt Nam và những nhãn hiệu nào sẽ tiếp tục phát triển trong năm 2008.

Trà Không Độ - Ông Vua trà ở Việt Nam: Nhãn hiệu phát triển nhanh nhất ở Việt Nam cũng thuộc về mặt hàng phát triển nhanh nhất ở Việt Nam: trà chế biến sẵn. Vì trà là loại nước giải khát được tiêu thụ lớn nhất ở đây và có thể được xem là loại thức uống dân tộc của Việt Nam, nên không có gì đáng ngạc nhiên khi một công ty Việt Nam có tầm nhìn và sự thấu hiểu đã nhận ra tình yêu trà của Việt Nam và đã biết đổi mới một trong những loại nước gảii khát lầu đời và gần gũi nhất của thế giới thành một loại nước giải khát mới. Trà Không Độ của Công ty Tân Hiệp Phát (THP) phát triển với tốc độ đáng kinh ngạc, tăng trưởng 190% ở đô thị Việt Nam từ tháng 11/2006 đến tháng 11/2007 (theo số liệu của TNS Worldpanel về tiêu dùng tại gia; 2.150 hộ gia đình ở TP Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đà Nẵng, Cần Thơ). Xem xét mặt hàng trà chế biến sẵn phát triển trên 80% trong cùng một khoảng thời gian, có thể nhận thấy rằng Trà Không Độ đã đơn thương độc mã phát triển và chi phối cả ngành hàng này. Thị phần tăng 17% đã khiến Trà Không Độ trở thành Vua trà chế biến sẵn ở Việt Nam.Trà C2 của URC Việt Nam cũng phát triển mạnh với thị phần tăng 7%, nhưng thật sự vẫn còn nhỏ so với Trà Không độ.Tuy nhiên, sự cách tân sản phẩm dường như là nhân tố chủ yếu trong sự thành công của Trà Không Độ, bởi dường như THP hiểu rằng người tiêu dùng Việt Nam ngày càng quan tâm các sản phẩm liên quan đến sức khỏe, nhưng cũng phải mới, hợp thời và tiện lợi. Trà Không Độ có thể được xem như câu chuyện thành công nhãn hiệu thật sự của Việt Nam.    Mối tình với kem: Những nhãn hiệu phát triển nhanh thứ hai ở Việt Nam năm 2007 đều là kem. Kem Vinamilk và Tràng Tiền tăng thị phần lần lượt là 11% và 10% từ tháng 11/2006 đến tháng 11/2007 (tất cả các số liệu dựa trên dữ liệu về tiêu dùng tại gia của TNS). Một lần nữa, tính hấp dẫn của sản phẩm cũng như sự tích lũy vật chất và đam mê của người tiêu dùng, cả hai giữ vai trò chính đối với sự thành công của Vinamilk và kem Tràng Tiền. Nhìn chung, mặt hàng Kem tăng khoảng 36% trong suốt thời gian đó, minh chứng rằng phần lớn sự tăng trưởng này có thể được đóng góp trực tiếp đối với câu chuyện thành công của hai nhãn hiệu Việt Nam này.
Sting – nhãn  hiệu nước ngoài phát triển nhanh nhất: Thật khôi hài, nhãn hiệu nước ngoài phát triển nhanh nhất tại Việt Nam chỉ đứng thứ tư về tăng trưởng thị phần. Sting của PepsiCo tăng thêm 8% thị phần năm 2007. Tuy nhiên, tỷ lệ tăng trưởng này đưa Sting đứng đầu về nước uống tăng lực với thị phần tăng hơn 40% ở đô thị Việt Nam. Thành công của Sting xét về mặt nhãn hiệu thật sự đáng lưu ý, bởi vì mặt hàng nước uống tăng lực thậm chí không được xếp vào 10 mặt hàng tăng trưởng hàng đầu ở Việt Nam, điều đó có nghĩa là Pepsi có thể thật sự liên kết với cơ sở tiêu dùng đô thị và đẩy doanh thu trong thị trường nước giải khát đầy cạnh tranh. Nước tương Maggi, với thị phần tăng gần 8% năm 2007, là nhãn hiệu nước ngoài phát triển nhanh nhất ở Việt Nam với thị phần tăng khoảng 16% ở đô thị Việt Nam năm 2007.
 Những nhãn hiệu thành công khác năm 2007
Một loại nước trái cây của Pepsi, Twister, cũng thành công trong việc tăng thị phần, đứng thứ 7 trong các nhãn hiệu FMCG phát triển nhanh nhất năm 2007. Number 1, cũng của THP, mặc dù không thuộc 10 nhãn hiệu hàng đầu, đứng thứ 12 về tăng trưởng thị phần ở Việt Nam với tăng trưởng 3% trong năm 2007, khiến cho THP trở thành một trong 4 công ty ở Việt Nam có 2 nhãn hiệu đứng trong 20 nhãn hiệu hàng đầu về tăng thị phần năm 2007.Những nhãn hiệu khác trong 20 nhãn hiệu FMCG phát triển nhanh nhất tại đô thị Việt Nam, bao gồm: 333 và Sài Gòn Đỏ (Công ty Bia Sài Gòn), sữa (Vinamilk), rượu Whisky (Grant’s), Mì ăn liền Hảo Hảo, khăn ăn (Vĩnh Huê), khăn giấy (Watersilk), nước mắm Chin Su, bột nêm Aji Ngon, kem đánh răng Colgate, dưỡng thể và dưỡng da tay Oriflame và mỹ phẩm L’Oreal. Tất cả phân tích này dựa trên dữ liệu thống kê về tiêu dùng tại gia ở đô thị Việt Nam của TNS. 9 trong số các nhãn hiệu phát triển nhanh nhất là nước giải khátNăm 2007 hầu như phản ánh năm 2006 khi xét về tỷ lệ tăng trưởng các ngành hàng ở đô thị Việt Nam. Năm 2006, 10 trong 15 ngành hàng tăng trưởng nhanh nhất là nước giải khát. Một lần nữa trong năm 2007, 4 trong 10 ngành hàng tăng trưởng hàng đầu là nước giải khát. Điều này cho thấy khả năng khuynh hướng phát triển nước giải khát sẽ tiếp tục trong năm 2008.Có 3 yếu tố chi phối sự tăng trưởng này. Đầu tiên và trước hết là tăng trưởng về vật chất. Đã qua rồi cái thời nước sôi hoặc một tách trà nóng đơn giản được sử dụng để làm tỉnh táo cơ thể và tinh thần. Ngày nay, người tiêu dùng có nhiều tiền hơn để dập tắt cơn khát của mình với nhiều loại nước giải khát ngon miệng, nhiều dinh dưỡng và tiện lợi.Thứ hai, người tiêu dùng Việt Nam đã quan tâm hơn đến sức khỏe và tìm kiếm những loại thức uống có lợi cho sức khỏe có thể làm cân bằng lối sống bận rộn và những chế độ ăn kiêng ngặt nghèo.Thứ ba, sự tiện lợi đóng vai trò chính trong việc lựa chọn nhãn hiệu và mặt hàng. Hầu hết lối sống cư dân đô thị đã tăng lên trong vài năm qua. Vì vậy, những sản phẩm chế biến sẵn, tiết kiệm thời gian, cung cấp năng lượng và có lợi cho sức khỏe để duy trì nhịp độ nhanh theo yêu cầu của những cơ hội kinh doanh đang xuất hiện tại Việt Nam.

Ngoại hình đẹp và tự tin
Một xu hướng khác xuất hiện từ năm 2007 là người tiêu dùng Việt Nam mong muốn nhìn đẹp và cảm thấy tự tin. Xu hướng này rất dễ nhận thấy trên đường phố TP Hồ Chí Minh và Hà Nội, phụ nữ ngày càng khỏe và đẹp, với nước da trắng đẹp và cách trang điểm quyến rũ. Nam giới cũng đang tiêu tiền để mua lấy sự tự tin. Da phẳng và có mùi xạ hương,  không phải mùi dầu nhớt, nam giới cũng ngày càng quan tâm hơn đến các sản phẩm chăm sóc cá nhân và các mẹo làm đẹp. Vì vậy, những sản phẩm làm đẹp, chống lại sự lão hóa và nhìn chung khiến một người tự tin và đẹp hơn sẽ tiếp tục tốc độ phát triển nhanh trong năm 2008.
Với những diễn biến trong năm 2007, người ta có thể đặt câu hỏi: những sản phẩm nào sẽ nổi bật trong năm 2008? Theo khảo sát của TNS Vietnam, trong các nhãn hiệu Việt Nam và nước ngoài mà mang đến sự tiện lợi trong gia đình, các mặt hàng nước giải khát, các sản phẩm chăm sóc cá nhân và thời trang sẽ dẫn đầu những thay đổi trong năm 2008. Cuối cùng, với sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam, người tiêu dùng của đất nước này sẽ nhìn xinh hơn, đúng giờ và khỏe mạnh trên đường đạt đến thành công cá nhân.

                                                                                                                      < Theo TH&DN >
Đọc thêm »

Quảng cáo hốt bạc thời khủng hoảng

Trong và sau thời kỳ khủng hoảng kinh tế, khi mà quỹ dành cho quảng cáo đang ngày càng bị thắt chặt thì vẫn có không ít doanh nghiệp thu được lợi nhuận lớn nhờ xác định được phương hướng quảng cáo hiệu quả.





Nền kinh tế suy thoái và mất kiểm soát hiện đang gây ra những ảnh hưởng xấu tới rất nhiều doanh nghiệp, trong đó có hàng nghìn công ty vừa và nhỏ. Tuy nhiên, Arena Media Networks, một công ty quảng cáo mới mở ở New York lại có khả năng trụ vững trong xu hướng này.
Đó là bởi vì công ty này kinh doanh với những đội bóng chuyên nghiệp, mà dưới một góc độ nào đó được coi là “miễn nhiễm” với những vấn đề ngày càng tồi tệ đang diễn ra xung quanh họ.
Công ty này, với 25 nhân viên, bán các chương trình quảng cáo trên màn hình lớn trong gần 50 nhà thi đấu chuyên nghiệp và các sân vận động, trong đó có các sân vận động Yankee, Wrigley Field, United Center, Dodger và Madison Square Garden.
Trong khi các hãng truyền hình tường thuật trực tiếp những trân đấu đang diễn ra trên sân vận động thì mỗi ngày, những người làm chương trình tại công ty quảng cáo Arena Media ở Manhattan lại cho chiếu hàng chục đoạn quảng cáo kéo dài 30 giây trên những màn hình lớn trong sân vận động của những trận đấu mà khán giả truyền hình đang xem trực tiếp trên tivi tại những căn hộ cao cấp, những khu tổ hợp trung tâm thương mại ngay cạnh những gian hàng giảm giá.
Những nhà quảng cáo có thể mua thời lượng phát hình trong các sân vận động và nhà thi đấu bao nhiêu tùy thích, phát các chương trình quảng cáo bao nhiêu lần họ muốn trước, trong và sau một trận đấu, hay trong cả mùa giải. Trong trân đấu, các đoạn quảng cáo được bật trong suốt khoảng thời gian ngừng đấu, hay lúc nghỉ giữa hiệp, chúng giống như những đoạn quảng cáo được phát sóng trên tivi ở nhà.
Dưới sức ép của sử dụng đồng tiền một cách hiệu quả, các nhà quảng cáo đều có chung một suy nghĩ: xác định xem đối tượng xem quảng cáo của họ. Theo ông Art Williams, giám đốc điều hành và chủ tịch công ty quảng cáo Arena Media thì hiện nay người tiêu dùng đang tiêu ít tiền hơn do đó những cổ động viên tới các sân vận động chủ yếu là nam giới ham mê thể thao thực sự và đây chính là đối tượng cần được chú ý.
Doanh thu tăng 50% trong vòng 3 năm
“Các cổ động viên hâm mộ thể thao là một trong những ‘thành trì vững chắc’ cuối cùng của nền kinh tế” ông nói. “Các công ty quảng cáo đang đối mặt với thách thức làm thế nào để tạo được sự ảnh hưởng tới những khoản tiền của họ. Thay vì cố gắng thu hút những cổ động viên đang theo dõi trận đấu tại nhà nơi mà họ có điều khiển từ xa và đầu ghi hình kỹ thuật số, thì ở sân vận động không có bất kỳ điều khiển từ xa nào cho những màn hình tivi của chúng tôi”.
Công ty Arena Media trả cho các ông chủ sân vận động và nhà thi đấu một khoản tiền để được phát quảng cáo trong trận đấu và chia cho họ một phần lợi nhuận mà công ty này kiếm được từ những công ty quảng cáo như Ford, Geico và Army. Ông William từ chối tiết lộ tỷ lệ phần trăm của doanh thu quảng cáo mà ông trả cho các chủ sở hữu sân vận động, nói rằng doanh thu của công ty ông tăng 50% trong vòng 3 năm qua. Ông hy vọng sẽ phá vỡ kỷ lục trong năm nay.
Hai năm trở lại đây, Arena Media đã nhân đôi số lượng các địa điểm phát hình các quảng cáo của công ty và ông William hy vọng công ty sẽ có mặt ở 100 sân vân động liên đoàn trong vài năm tới, và sau đó sẽ chuyển sang các trận đấu tại các trường đại học. Những sân vận động mới có nhiều màn hình tivi hơn, điều đó có nghĩa là có nhiều khán giả tiềm năng hơn.
Ví dụ như, CitiField, sân vận động mới của đội bóng chày New York Mets, sẽ có hơn 700 màn hình tivi mà mỗi màn hình lớn được ghép lại bởi 3 màn hình nhỏ.
Nhiều ông chủ muốn tìm kiếm những công ty phát quảng cáo trên màn hình tivi trong sân vận động của họ nhưng dường như là hiện nay Arena Media không có đối thủ nào.
"Cổ động viên xem quảng cáo rất nhiều"
Trong khi các hình thức quảng cáo truyền thống trên các tờ báo và tạp chí đang phát triển chậm lại, thì các quảng cáo ở những địa điểm thay thế như màn hình tivi đặt ở sau ghế trên xe taxi, ở trạm bơm xăng, và trong các siêu thị mua sắm lại tăng lên liên tục. Các đoạn quảng cáo của Arena Media cũng thường xuyên được xếp vào loại này.
“Nếu quảng cáo ra khỏi nhà, qảng cáo sẽ phát triển” - Jeff Golimowski, phát ngôn viên của Hiệp hội Quảng cáo ngoài trời của Mỹ nói. “Vì chúng tôi phát hiện ra rằng ngày nay người tiêu dùng ra đường nhiều hơn, họ tới các khu tập trung đông người như nhà thi đấu. Và vì đó là nơi người tiêu dùng có mặt nên đó sẽ là nơi mà những nhà quảng cáo muốn đến”.
Giữa trận đấu, các cổ động viên chăm chú xem màn hình quảng cáo.

Theo công ty Nghiên cứu Truyền thông Nielsen Media Research thì quảng cáo ngoài trời đã tăng tổng cộng 8,9% năm 2005, 11,2% năm 2006 và 2,3% năm 2007. (Tuy không có số liệu đầy đủ năm 2008 nhưng số liệu 9 tháng đầu năm cho thấy có sự sụt giảm nhẹ).
Mặc dù vậy các nhà phân tích gặp phải khó khăn trong việc dự báo về sự phát triển của công ty Arena Media bởi vì phương thức kinh doanh của công ty tương đối mới và bởi vì các chương trình quảng cáo trên màn hình lớn đang bị cạnh tranh với những loại hình truyền thông khác.
Các nhà quảng cáo cũng phải đối mặt với vấn đề tương tự khi họ mua thời lượng phát hình trên màn hình tivi ở các siêu thị, sân bay và các địa điểm công cộng khác: khách qua đường có thể chỉ liếc mắt xem cái gì đang chiếu trên màn hình nhưng không thực sự chú ý vào nội dung của quảng cáo đó.
“Bởi vì tầm nhìn của người xem bị giới hạn và đoạn quảng cáo chiếu quá gần với họ, nên rất khó đảm bảo rằng mọi người đều xem quảng cáo của bạn” - ông Jon Swallen, giám đốc nghiên cứu của công ty khảo sát TNS Media Intelligence, nói. “Trong khi với những người giàu có, đi xem một trận đấu vẫn là một thú vui cùng bạn bè sau một ngày làm việc. Chính điều này đòi hỏi các chương trình quảng cáo trên màn hình ở sân vận động phải cạnh tranh để lấy lại được sự ưu ái".
“Cổ động viên xem đoạn quảng cáo nhiều lắm”, ông Greg McElroy, từng là Phó giám đốc kinh doanh và tiếp thị cho sân vận động Dallas Cowboys, 5 năm trước đã từng làm việc cho sân vận động Dodgers ở Los Angeles và đã mua những quảng cáo của công ty Arena Media để chiếu trên sân vận động Dodger, nói. “Vì vậy chúng tôi nghĩ rằng có thể kiếm tiền bằng cách chiếu những đoạn quảng cáo trong suốt giờ tạm nghỉ của trận đấu, thay vì chỉ bật tivi và mặc kệ công việc cho đài truyền hình".

< theo vnbrand>
Đọc thêm »

Thứ Năm, 3 tháng 3, 2011

"chỉ có thể là Heineken"

          Heniken, một trong nhưng thương hiệu bia hàng đầu thế giới. Được thành lập từ năm 1863, hãng bia Hà Lan đã có mặt trên 170 quốc gia.

          Để đạt được thành công này ngoài việc tập trung vào chất lượng sản phẩm Heineken đã có những chiến dịch quảng bá hình ảnh hãng đầy ấn tượng. Họ liên tục tài trợ các sự kiện âm nhạc, thể thao nổi tiếng hay quyết định bán sản phẩm của mình trong siêu thị cũng là một ý tưởng mới mẻ nhằm mở ra một kênh phân phối mới.
Hiện nay trong thời đại toàn cầu hóa. Heineken vẫn không ngừng nỗ lực để khẳng định vị thế của mình trước sự cạnh tranh từ các hãng bia khác. Và thực tế là Heineken vẫn đang là thương hiệu bia phổ biến và rộng khắp nhất.
          Truyền thông - một trong nhưng lĩnh vực giúp quảng bá thương hiệu tới người tiêu dùng một cách nhanh chóng và rộng khắp. Chỉ riêng về quảng cáo trên ti vi thì Heineken đã là một trong những thương hiệu sở hữu nhiều clip quảng cáo được đánh giá cao về tính độc đáo và sự sáng tạo, nổi tiếng với slogan "Chỉ có thể là Heineken". Mỗi quảng cáo cũng thường mang những thông điệp riêng.
          Quảng cáo nội dung hài hước về sự khác biệt trong nhu cầu giữa phụ nữ và nam giới. Trong khi phụ nữ thích thời trang thì nam giới chỉ... Heineken.
Quên cả tự tử vì Heineken. Thông điệp chính của quảng cáo này là Heineken is better than suicide.
Exactly the same (Không thay đổi theo năm tháng) là thông điệp của quảng cáo này.
Hấp dẫn hơn cả phụ nữ. Đúng là chỉ có thể là Heineken!!
Clip quen thuộc. bất chấp cả thùng đá.
Còn đây là một trong những đoạn quảng cáo mới nhất của Heineken. Cực kì ấn tượng.



                                                                                                                 < tổng hợp >
Đọc thêm »

Social Marketing: Ý tưởng kinh doanh từ đôi chân trần của trẻ nghèo

Khi Blake Mycoskie thấy những đứa trẻ nghèo tại Argentina chân đất đi trên những con đường đầy rác và mảnh thủy tinh vỡ vào năm 2002, anh nảy ra ý định định lập công ty để giúp chúng có cơ hội xỏ giày.
blake Social Marketing: Ý tưởng kinh doanh từ đôi chân trần của trẻ nghèo
Cứ bán được một đôi giày, Mycoskie tặng một đôi cho trẻ em nghèo. Ảnh: wordpress.com.
4 năm sau, công ty của Mycoskie – mang tên TOMS Shoes và đặt trụ sở tại thành phố Santa Monica, Mỹ – đã tặng hơn 400.000 đôi giày cho trẻ em nghèo. Cùng với công việc từ thiện đó, anh đã đặt nền móng cho một hình thức kinh doanh mới ở Arlington, bang Texas, Mỹ. Người ta gọi hình thức ấy là “chủ nghĩa tư bản lương tri”.
TOMS – chữ viết tắt của “Tomorrow’s Shoes” – có ý tưởng kinh doanh rất đơn giản: Với mỗi đôi giày bán được, công ty sẽ tặng một đôi cho trẻ em nghèo. Mycoskie hình thành mô hình kinh doanh “một bán một cho” trong một chuyến đi tới Argentina để làm tình nguyện viên. Tại đây anh hiểu một đôi giày đơn giản có thể thay đổi cuộc đời của những đứa trẻ lang thang như thế nào.
“Tôi nhìn thấy chân của nhiều đứa trẻ bị cứa và nhiễm trùng vì những mảnh thủy tinh. Thật chẳng có từ nào lột tả hết cảm giác của tôi khi nhìn những bàn chân đó. Lúc ấy tôi nghĩ rằng, thay vì thực hiện những hành động từ thiện, tại sao người ta không nhìn những đứa trẻ đường phố bằng con mắt của một doanh nhân và lập nên một công ty để giúp bọn trẻ có giày”, anh kể.
Mycoskie từng thành lập 4 công ty trước khi tới Argentina. Khi còn là chàng sinh viên 19 tuổi ở Đại học Southern Methodist, thành phố Dallas, Mỹ anh lập dịch vụ giặt là. Sau đó anh mở công ty quảng cáo ngoài trời rồi bán nó để lập một kênh truyền hình thực tế, nhưng thất bại. Công ty thứ tư chuyên cung cấp dịch vụ đào tạo lái xe qua mạng và công việc kinh doanh có vẻ thành công. Cuối cùng Mycoskie bán cổ phần trong công ty này với giá chưa tới 500.000 USD để thành lập công ty sản xuất giày TOMS.
Trong năm đầu tiên, Mycoskie bán được 10.000 đôi giày làm bằng vải bạt với giá 45 USD một đôi. Cùng thời gian đó anh đem tặng 10.000 đôi giày cho trẻ em Argentina.
Chàng doanh nhân từ chối đưa ra những con số cụ thể về doanh thu và lợi nhuận, nhưng nói người ta có thể dùng phương pháp suy luận để tính doanh thu tối thiểu kể từ khi anh mở công ty vào năm 2006. Với 400.000 đôi giày đã bán ở mức giá 45 USD, đương nhiên anh thu về 18 triệu USD.
“Khi tôi khai trương TOMS tôi không thực sự coi nó là một công ty kinh doanh, mà chỉ đơn thuần là dự án nhân đạo”, doanh nhân 33 tuổi tâm sự.
Ý tưởng của Mycoskie nhận được sự ủng hộ của nhiều nhân vật nổi tiếng như tài tử Brad Pitt, nữ minh tinh Liv Tyler, người đẹp Scarlet Johansson, siêu sao nhạc rock Bono, công chúa nhạc pop Britney Spears.
“Tôi không biết tại sao họ ủng hộ tôi, bởi vì chúng tôi không tặng giày cho họ. Những ngôi sao nổi tiếng xuất hiện trên các tạp chí với những đôi giày của tôi trên chân. Sau đó các hãng bán lẻ bắt đầu quan tâm tới sản phẩm của tôi”, anh kể.
Một trong những hãng bán lẻ đầu tiên nhận giày TOMS là Nordstrom. Sau đó các hãng Foods, Bergdorf’s, Bloomingdale’s, Macy’s và Neiman Marcus tiếp bước. Ngày nay những đôi giày TOMS được bày bán ở hơn 20 quốc gia. Mycoskie nói mục tiêu của anh là hạ giá bán lẻ xuống dưới mức 45 USD để có thể giao giày có các hãng bán lẻ với giá 22,5 USD một đôi. Ngoài mẫu giày cơ bản, Mycoskie còn sản xuất giày ống cho phụ nữ với giá 98 USD một đôi và giày có dây buộc dành cho cả hai giới với giá 79 USD một đôi.
“Tôi nhận thấy tỷ lệ nữ trong tổng số khách hàng lớn hơn so với tỷ lệ nam. Tính ra khách hàng nữ chiếm tới 70%”. Mycoskie nói.
tom4 Social Marketing: Ý tưởng kinh doanh từ đôi chân trần của trẻ nghèo
Blake Mycoskie và một chiếc giày do công ty của anh sản xuất. Ảnh: Reuters.
Mycoskie nói anh tìm cách áp dụng mô hinh tiếp thị của tập đoàn Apple để thu hút sự chú ý của mọi người.
“Apple hấp dẫn đối với ông nội tôi, chị tôi và bản thân tôi, mặc dù chúng tôi thuộc ba thế hệ khác nhau”, ông chủ trẻ nói.
Thiếu niên, cầu thủ bóng đá nữ, sinh viên và cả những người yêu nhạc jazz đang đeo giày của TOMS. Chúng được tạo nên từ vải bạt và có kiểu dáng đơn giản. Người ta có thể đeo chúng tới mọi nơi. Nhưng theo Mycoskie, khách hàng tỏ ra thích thú khi biết việc họ mua một đôi giày đồng nghĩa với việc một đứa trẻ lang thang nào đó sẽ có một đôi giày tương tự.
Tính tới thời điểm hiện tại, hoạt động của TOMS vẫn phụ thuộc vào nỗ lực của cá nhân Mycoskie.
“Chúng tôi nhận đơn đặt hàng từ Nordstrom và sản xuất theo mẫu mã, số lượng mà họ yêu cầu. Tiếp theo chúng tôi giao hàng và nhận tiền trong khoảng 30 tới 60 ngày sau đó”, Mycoskie mô tả quá trình sản xuất.
Ông chủ 33 tuổi nói anh hưởng lợi từ mối quan hệ lâu dài với một ngân hàng nhỏ tại bang Texas, nơi người ta chẳng bao giờ phàn nàn mỗi khi anh trả nợ chậm. Điều đó khiến Mycoskie không phải thu hút vốn của các nhà đầu tư khác. Anh sợ rằng nếu có thêm cổ đông, công ty sẽ phải tập trung vào mục tiêu lợi nhuận thay vì hoạt động nhân đạo.
“Tôi từng nảy ra ý định kêu gọi đầu tư từ bên ngoài vài lần, nhưng cuối cùng tôi quyết định từ bỏ ý định ấy vì sợ rằng sự góp vốn của người khác sẽ phá hỏng văn hóa riêng của công ty”, anh nói.
Mycoskie nói anh dự định tăng gấp đôi sản phẩm trong năm nay, tức là sản xuất thêm 400.000 đôi giày nữa. Để hoàn thành mục tiêu đó, anh sẽ phải thuê thêm nhân công (hiện tại công ty có 70 người). Hoạt động sản xuất cũng phải được đẩy mạnh hơn ở các nhà máy tại Argentina, Trung Quốc và Ethiopia. Sự mở rộng quy mô sản xuất sẽ khiến Mycoskie gặp nhiều khó khăn hơn trong việc quán xuyến mọi hoạt động kinh doanh.
“Tôi sẽ tuyển thêm người để họ thực hiện những công việc cơ bản mà tôi đang làm. Tôi muốn có thêm thời gian để diễn thuyết trước công chúng về nỗi thống khổ của những người phải đặt đôi bàn chân trần trên những mảnh đất có độ axit cao trong cuộc sống hàng ngày. Khoảng 1 triệu người dân Ethiopia mắc các bệnh về chân và thực trạng đó có thể được ngăn chặn bằng cách đeo giày”, anh bày tỏ.
Với tư cách là doanh nhân, Mycoskie luôn nghĩ con đường phía trước của anh là làm việc chăm chỉ để tạo ra một gia sản lớn. Sau đó, trong những năm còn lại của cuộc đời anh sẽ lập nên những chương trình từ thiện để giúp đỡ người không may mắn.
“Tôi luôn nói với mọi người rằng di sản mà tôi để lại không phải là cái mà tôi tạo ra, mà chắc chăn là những thứ tôi đã cho người khác”, anh phát biểu.
                                                                                                        <theo VnExpress.net>
Đọc thêm »

10 ý tưởng tiếp thị giá rẻ

Đôi khi, bạn chỉ cần mất một vài USD mà vẫn đảm bảo cho ý tưởng tiếp thị của mình trở thành hiện thực và đạt được kết quả đáng nể. Nếu bạn đang tìm kiếm một vài ý tưởng tiếp thị giá thấp, sẽ không thiếu để bạn lựa chọn.
Nếu một trong số đó phát huy hiệu quả, hãy thực hiện nó thường xuyên. Nếu nó phát huy đôi chút hiệu quả, bạn hãy chỉnh sửa nó, và sau đó thực hiện thường xuyên. Còn nếu nó không phát huy hiệu quả, bạn hãy thử một chiến thuật tiếp thị giá thấp khác. Bạn sẽ mất bao nhiêu khi chi phí cho các chiến thuật tiếp thị này chưa đến 10 USD?

Chúng tôi xin giới thiệu 10 chiến thuật tiếp thị dưới 10 USD hiệu quả.


1. Thay vì dùng chiếc tem trị giá 39 cent, bạn hãy dán 39 chiếc tem trị giá 1 cent vào mặt trước của phong bì.
Một trong những nguyên tắc cơ bản của direct mail đó là sự nổi bật để có được sự chú ý của người nhận, giúp cho lá thư của bạn không bị vứt đi hay bỏ qua. Sự chú ý, mối quan tâm, niềm đam mê và hành động sẽ dẫn tới một chương trình direct-mail thành công. Và mọi thứ bạn có thể làm để gia tăng sự chú ý sẽ nâng cao cơ hội có được các quyết định mua sắm của khách hàng. Hơn tất cả, trong trường hợp này, bạn thậm chí sẽ không cần tốn thêm bất cứ khoản chi phí bổ sung nào.

2. Hàng tháng, đưa ra cho các khách hàng cơ hội để dành được phần thưởng:
Một bữa ăn trưa miễn phí, một món quà tăng nhỏ,…. Bất cứ ai đều muốn có cơ hội giành được phần thắng cái gì đó. Một khuyến mại kiểu như thẻ quà tặng trị giá 10 USD cho bữa ăn trưa tại một nhà hàng địa phương có thể đủ tác động hiệu quả đến một khách hàng để họ đặt hàng với bạn, và sau đó họ sẽ tiếp tục lựa chọn công ty bạn thay vì các đối thủ cạnh tranh. Bạn cũng có thể quan tâm tới các lời chào mời khác như càphê Starbucks hay thẻ giảm giá gas,….


3. Trích một phần tiền trong mỗi giao dịch mua sắm để quyên góp cho các hội từ thiện trong một tháng đặc biệt nào đó.
Nếu các đơn đặt hàng của bạn có giá trị trên 100 USD, hãy quyên góp 10 USD trên mỗi giao dịch. Nếu khoàn tiền 10 USD không mang nhiều ý nghĩa lắm đối với mức giá sản phẩm/dịch vụ, bạn có thể tìm kiếm khoản tiền từ thiện lớn hơn để làm sao thích hợp nhất. Khoản tiền từ thiện này sẽ cho thấy công ty bạn không chỉ quan tâm tới kinh doanh mà còn chú trọng đến trách nhiệm xã hội, qua đó sẽ giúp gia tăng doanh số bán hàng của công ty.
4. Tổ chức một cuộc thi phần thưởng 10 USD cho các khách hàng hiện tại và tiềm năng của công ty.
Bạn suy nghĩ thế nào nội dung cuộc thi “Dự đoán số serial trên tờ tiền 10 USD và nó sẽ thuộc về bạn”? Cuộc thi hoàn toàn không tốn kém tiền bạc, trong khi đó mọi người khi ghé qua và dừng lại tại công ty bạn sẽ cảm thấy vui vẻ tham gia và nhớ mãi về cuộc thi. Và nếu họ là người thắng cuộc, họ sẽ kế cho nhiều người khác biết – thậm chí chỉ là 10 USD.
5. Nếu khu vực của bạn có bán những viên kẹo trị giá vài xu, với 10 USD bạn có thể mua được hàng nghìn viên kẹo.
Nếu không, bạn vẫn có thể có được một số lượng nhất định với khoản đầu tư nhỏ này. Việc gửi kèm các viên kẹo trong hoá đơn thanh toán sẽ khiến mọi người nhớ về công ty bạn hơn. Thông thường, các khách hàng rất nhạy cảm với bất cứ sự quan tâm nào họ nhận được từ phía công ty bạn, do đó chỉ một chút chăm sóc cũng có thể có tác động rất lớn. Bạn hãy đưa kèm cho khách hàng 2 viên kẹo – một cho họ và một để họ cho người khác. Chiến lược này hoàn toàn không tốn kém hay to tát chút nào, nhưng hiệu quả có được về mặt tình cảm là vô cùng lớn.
6. Ghé thăm các khách hàng với một món quà nhỏ trong tay.
Vấn đề chính là ở chỗ các khách hàng hiện tại cũng như các khách hàng tiềm năng đều yêu thích sự quan tâm. Bạn hãy ghé qua thăm một vài các khách hàng và biểu lộ sự quan tâm của bạn tới họ bằng một quà nhỏ (có thể chỉ là gói bánh giá chưa đầy 1 USD). Bạn không thể làm điều này với 1000 khách hàng, nhưng có thể thực hiện với 10 hay 20 khách hàng. Và trong nhiều trường hợp, 10 hay 20 khách hàng đó có thể đem lại cho bạn đủ số lượng đơn đặt hàng đáp ứng mục tiêu doanh số hàng tháng.
7. Có trong tay 10 USD, bạn có thể thuê một sinh viên, cháu trai hay cháu gái, các em thanh thiếu niên đóng vai trò là khách hàng của công ty bạn như là dấu hiệu quảng bá, xác nhận điều gì đó tích cực.
Nghe có vẻ hơi ngốc nghếch, nhưng việc có các khách hàng “đóng giả” bên ngoài là dấu hiệu cho thấy “Chúng tôi đang cam đoan với mọi người về một dịch vụ khách hàng tốt trong khu vực này!” hay “Đây là một địa điểm tuyệt vời cho mọi người”. Qua đó, bạn sẽ thu hút được sự chú ý đông đảo hơn. Bạn thậm chí có thể có được những quan tâm từ giới truyền thông báo chí.
8. Trong một con đường có thu phí, bạn hãy trả lệ phí cho chiếc xe đằng sau bạn, và đề nghị nhân viên thu phí đưa tấm danh thiếp của bạn cho lái xe đó và nói với anh ta rằng bạn đã trả giúp phí.
Đây rõ ràng là một chiến thuật tiếp thị giá thấp, để lại một ấn tượng trong tâm trí mọi người về công ty bạn. Nếu lệ phí cầu đường là 0,5 USD, bạn có thể thực hiện 20 lần và chỉ mất 10 USD tiếp thị. Cơ hội thành công không nhỏ chút nào khi các nghiên cứu cho thấy ít nhất một hay hai người trong số 20 người đó sẽ liên hệ với bạn.
9. Sử dụng vé xổ số như một sự khích lệ mọi người giới thiệu, quảng bá về công ty bạn.
Bạn có thể tiếp thị sản phẩm/dịch vụ của bạn như một cơ hội có được hàng triệu USD giải xổ số (hay bất cứu giải thưởng nào khác đối với hoạt động xổ số tại khu vực của bạn) cho tất cả những lời giới thiệu, xúc tiến kinh doanh bạn nhận được trong một quãng thời gian cụ thể nào đó.
10. Quảng cáo sử dụng tờ rơi.
Với mức phí trung bình khoảng 2 cent cho mỗi tờ rơi, 10 USD sẽ mua được 500 tờ rơi in ấn đẹp mắt. Bạn có thể sử dụng chúng để quảng bá sản phẩm/dịch vụ của bạn trong một khu vực mục tiêu, gửi kèm trong các gói sản phẩm giao nhận, chào hàng tiếp thị, phân phát chúng cho các khách hàng trên đường phố hay gửi chúng qua đường bưu điện tới các danh sách khách hàng nhất định. Tốt hơn nữa, bạn gửi các tờ rơi này tới 100 người, mỗi người 5 lần, và tần suất gửi sẽ giúp gia tăng các phản hồi từ phía người nhận. Nhưng cần đảm bảo rằng bạn có một thông điệp thích hợp, những chào hàng hợp lý và đối tượng mục tiêu chuẩn xác. Bạn cũng nên biết rằng nhiều công ty in ấn hay công ty cung cấp văn phòng phẩm thường xuyên đưa ra nhiều mức giá in ấn đặc biệt khác nhau. Nếu bạn không thể tìm kiếm một chào mời đặc biệt nào đó, hãy quan tâm tới kế hoạch xúc tiến kinh doanh liên kết cùng với các nhà cung cấp in ấn.
Trên đây là 10 chiến thuật tiếp thị dưới 10 USD sử dụng thời gian, công sức và trí tưởng tượng thay cho tiền bạc tốn kém. Chúng luôn phát huy hiệu quả. Và chúng có thể được sử dụng nhằm gây dựng lợi nhuận tại những điểm mà các nỗ lực tiếp thị của bạn có thể được mở rộng về quy mô và phạm vi để thực sự đẩy mạnh kinh doanh tăng trưởng.
                                                                                                          ( Nguồn Sưu Tầm )
Đọc thêm »

Emotional Marketing – Quy luật của trái tim

Vì con người là động vật giàu cảm xúc
heart 300x257 Emotional Marketing – Quy luật của trái tim
Khi quyết định mua sản phẩm gì, khách hàng sẽ so đo, cân nhắc giữa kiểu dáng, tính năng, giá cả…để tìm cái phù hợp nhu cầu của mình nhất. Nhưng nếu đứng trước hai sản phẩm “ngang cơ” về tính năng, giá cả thì sao? Thực tế cho thấy sản phẩm nào làm người mua thấy có cảm tình hơn thì họ sẽ lấy sản phẩm đó.
Bi kịch là khách hàng đang ngày càng kém trung thành, khi mà trước họ là các kệ hàng hóa là ngồn ngộn các sản phẩm cùng loại với những tính năng “hay, tốt như nhau”, chưa kể nào là khuyến mãi, hậu mãi các kiểu. Điều duy nhất có thể giữa chân họ là sự trung thành với nhãn hiệu, có nó, xác suất chuyển đổi sang xài nhãn hiệu cạnh tranh khác sẽ giảm.
Vậy bài toán của chúng ta là làm sao cho khách hàng “yêu” được mình. Thế giới cảm xúc của con người là một nùi phức tạp, biết khách hàng muốn gì, cần gì và khuấy động đúng những cảm xúc cần thiết chính là chìa khóa để người làm marketing đưa sản phẩm của mình vào trái tim khách hàng, đó cũng là “thuốc đề kháng” tốt để cách ly họ với đối thủ của chúng ta
Ở Việt Nam, emotional marketing không phải điều gì quá mới mẻ, mà từ trước đến giờ – không cần biết định nghĩa đã thành hình hay chưa – nhiều hoạt động marketing đã được nỗ lực xây dựng để trang giành tình cảm của khách hàng về mình.
Vĩ mô hóa vấn đề thì có Trung Nguyên thì đánh vào khía cạnh lòng tự hào dân tộc, kêu gọi người tiêu dùng ủng hộ hàng Việt Nam. Tuy có người ủng hộ, kẻ chê bai nhưng không thể phủ nhận những gì Trung Nguyên đã làm nhiều người cảm thấy tự hào về thương hiệu Việt này,và có cái để ta lấy làm ví dụ về emotional marketing nữa chứ. Hoành tráng không kém là Nutifood, Biti’s … cũng nhấn mạnh vào tinh thần người Việt để khơi dậy cảm xúc.
Vi mô hơn thì có Kotex sau thời kỳ nhấn mạnh vào các tính năng đặc trưng về thấm hút, bắt đầu cho ra đời các thể loại Kotex Pro cho chị em văn phòng, Kotex xì tin cho giới trẻluôn muốn khẳng định mình. Mỗi thương hiệu con đều mang một “nhân cách thương hiệu” riêng, đánh trúng vào những ước muốn của đối tượng tiêu dùng mục tiêu. Ai bảo một sản phẩm như băng vệ sinh không có nhiều cái để nói nào?
Kaspersky là một phần mềm diệt virus đang rầm rộ tiến vào Việt Nam. Thay vì dài dòng nói lên những ưu việt trong việc diệt virus của mình, chỉ bằng một thông điệp đơn giản họ đã đánh đúng vào điều khách hàng mục tiêu quan tâm và e ngại: Bạn muốn mất 61.000 file dữ liệu một phút hay 16.000 VND/tháng cho phần mềm anti –virus? Nói như thế vừa kích động nỗi lo ngại của người tiêu dùng về việc tính an toàn của dữ liệu, vừa chỉ cho họ thấy Kaspersky là một món hời nên đầu tư.
Comfort cũng là một tình huống thành công khi đưa cảm xúc vào hình ảnh thương hiệu, với hình ảnh thiên thần hương dễ thương gây nhiều thiện cảm. Gần đây nhất Sunsilk – thương hiệu cùng tập đoàn cũng ra quân rầm rộ trong chiến dịch “Sống là không chờ đợi” cổ vũ cho một phong cách dám nghĩ, dám làm của những cô gái trẻ hiện đại. Trường hợp của Sunsilk, một lần nữa cho thấy hướng đi chung trong định vị các thương hiệu của tập đoàn Unilever: Tiến dần từ functional marketing (định hướng trên tính năng) đến emotional marketing( định hướng trên cảm xúc). OMO từ tẩy trắng đến gắn với tính học hỏi của trẻ em, Lipton từ món giải khát đến kích thích sự sáng tạo, Sunsilk từ suôn mượtdần gắn với ước mơ, phong cách sống, Dove từ việc làm mịn da đến tôn vinh vẻ đẹp phụ nữ các kiểu… Tuy nhiên tôi tin rằng Sunsilk Việt Nam chưa thấy tự tin trong lòng khi triển khai chiến dịch “Sống là không chờ đợi”, bằng chứng là cách họ luôn đổ cho “Đó là chiến dịch toàn cầu của Sunsilk và VN là một mắt xích”. Nhưng những phản hồi thời gian qua về cảm nghĩ của khách hàng, về doanh số… đã chứng minh kết quả cũng không tệ lắm, bước đầu đã trấn an được những e ngại rằng tiến hành thời điểm này là chưa đúng lúc vì thị trường VN có nhiều điểm chưa được như thế giới để áp dụng vào.
Lúc nào cần làm emotional marketing ?
Như đã nói ở trên, thực ra emotional marketing không phải là mốt như nhiều người lầm tưởng. Không phải là bây giờ mới có emotional marketing còn trước kia không có, và thương hiệu nào không emotional marketing thì là nhà quê. Ví dụ như không phải Sunsilk bây giờ mới emotional marketing thì những người làm marketing cho Sunsilk tụt hậu so với người anh em OMO cùng tập đoàn đã thực hiện emotional marketing cách đây chừng 4, 5 năm. Emotional marketing chỉ là một giai đoạn tiến hóa trong quá trình marketing sản phẩm, song song với mức độ thâm nhập của sản phẩm và sự phát triển trong tư duy của khách hàng mục tiêu. Không phải cứ thấy mọi người làm thì mình cũng phải đua đòi theo, làm mà không tới thì chẳng khác gì chiếc áo may dở chắp vá lỗ chỗ. Bên cạnh nhân tố nguồn lực như hầu bao đầy, làm bài bản, chuyên nghiệp còn phải kể đến định hướng, tầm nhìn của người chủ thương hiệu làm sao xác định được con đường mà thương hiệu đã và sẽ đi.
Tất nhiên những người cho rằng emotional marketing là trào lưu của thời đại cũng có cái lý của họ. Khi mà sự cạnh tranh ngày càng gay gắt, không phải lúc nào trắng sạch với bóng mượt cũng gây cho họ chú ý. Làm sao để làm cho mình nổi bật giữa một rừng tính năng mà các đối thủ cạnh tranh chào mời khách hàng, đó là một bài toán khó, và đánh vào cảm xúc chính là một lối đi riêng và là xu thế tất yếu có thể làm bản sắc thương hiệu tỏa sáng được.
Tuy nhiên chúng ta không nên quên rằng muốn xây nhà phải có móng. Nếu người tiêu dùng chưa biết gì về background của sản phẩm, dịch vụ thì có tác động mấy đến tình cảm cũng không làm họ đặt niềm tin vào chúng. OMO không còn nói trắng sạch nữa mà nói về việc khuyến khích tìm tòi của con trẻ, cũng dựa trên nền tảng là các bà nội trợ đã hoàn toàn tin OMO tẩy trắng tốt, Honda nói “Tôi yêu Việt Nam” mà gây cho người tiêu dùng nhiều xúc động cũng phải dựa trên một bề dày gắn bó với người dân đất Việt, Prudential từ những ngày đầu bước chân vào thị trường, một mặt vừa hô to “Luôn luôn lắng nghe, luôn luôn thấu hiểu”, một mặt nỗ lực thực hiện điều đó qua các hoạt động marketing nhất quán, chất lượng dịch vụ, các hoạt động vì cộng đồng… chứ không phải phát biểu hay thế thì người ta tin ngay mình. Trước khi Biti’s nói câu “Nâng niu bàn chân Việt” lay động lòng người họ cũng đã là một thương hiệu nhiều năm uy tín. Tiếc rằng sau khi nói câu đó xong Biti’s lại im lặng luôn làm cho người tiêu dùng nhớ nhớ quên quên bây giờ không còn biết là Biti’s có nâng niu bàn chân họ nữa không, đây là một ví dụ cho quan điểm “đã làm thì phải làm cho tới” mà người viết vừa nêu ở trên.
Vậy khi nào nên làm emotional marketing, bây giờ lúc mới tung sản phẩm hay bao giờ? Người viết cho rằng lúc nào cũng được, tùy cách thức bạn định hướng cho thương hiệu của mình, nếu thấy cần thiết thì làm nhưng đã làm thì phải bài bản, có tính chiến lược và nhất quán. Nếu bạn sắp tung một sản phẩm như Knorr muốn đánh vào tình cảm dành cho gia đình của những bà nội trợ, hãy chắc chắn là bạn hiểu họ nghĩ gì và diễn tả đúng mong muốn đó thì mới lay động được xúc cảm của họ. Đó là bữa cơm ngon cho gia đình, đó là cảm giác hạnh phúc được chăm sóc chồng con. Các TVC, event đến activation đều phải tập trung truyền bá thông điệp đó cho họ “thấm”, chứ không phải hôm nay nói về người phụ nữ của gia đình, còn ngày mai lại nói về các xu hướng nấu ăn mới chẳng liên quan gì đến “cảm xúc” mà bạn muốn truyền cho họ.
Cho nên, hoặc trước hết ta hãy gầy dựng niềm tin của khách hàng, sau đó mới thêm vào cảm xúc, hoặc vừa xây dựng cảm xúc và niềm tin, chỉ khi có đủ hai yếu tố đó thì mới đảm bảo chiếm trọn tình cảm của khách hàng.
                                                                                                  <theo blog của Bánh Bèo>
Đọc thêm »