ADS 468x60

Hãy sống như hôm nay là ngày cuối cùng.

Luôn nhớ rằng tất cả chỉ là bắt đầu...

Thứ Ba, 5 tháng 4, 2011

Tám đức tính để lãnh đạo

đức tính,lãnh đạo
Trong môi trường kinh tế quá độ, một số lãnh đạo doanh nghiệp hay biện minh cho hành động hoặc triết lý hành động của mình bằng câu: “Thương trường là chiến trường”. Nhận thức trên chỉ đúng trong một bối cảnh, một khoảng thời gian ngắn và cá biệt. Bởi lẽ lịch sử đã chứng minh rằng hòa bình và phát triển bền vững để giàu mạnh, hạnh phúc là điều mong muốn của con người.

Ernest Renan, một triết gia lớn, đã nói: “Khoa học mà không lương tâm chỉ là sự sụp đổ của tâm hồn”, thiết nghĩ tư tưởng này cũng đúng trong lĩnh vực kinh tế hay làm kinh tế mà các nhà lãnh đạo và điều hành nên để ý. Tôi cho rằng lãnh đạo và điều hành hay triết lý hành động và điều hành của nhà lãnh đạo cần dựa trên tám đức tính. Đó là bình tĩnh, tự tin, can đảm, lo xa, trân trọng, kiên định, chủ kiến và lương tâm.

Tám đức tính này không phải là những điều xa xôi, khó khăn lắm mới có thể thực hiện được mà thật ra nó đã tiềm ẩn trong ta. Chỉ có điều là liệu mỗi người đã nhận thức được đây là những đức tính cần phải phát huy hay không? Các nhà lãnh đạo và điều hành thành công lừng lẫy trên thế giới, và ngay ở Việt Nam trong lĩnh vực kinh tế, đã sử dụng các đức tính này một cách nhuần nhuyễn và đầy nghệ thuật.

Tôi xin biện chứng một cách ngắn gọn về tám đức tính này.


Bình tĩnh (Trầm tĩnh)

Doanh nghiệp là một quần thể con người với những mâu thuẫn nội tại phức tạp, và chịu những tác động từ bên ngoài: cạnh tranh, quan liêu hành chính, công nợ khó đòi... Người lãnh đạo hay người điều hành gặp muôn vàn điều bực dọc, khó khăn, nếu không bình tĩnh (trầm tĩnh) thì sự sáng suốt sẽ mất đi, lúc đó sự quyết đoán sẽ trở thành võ đoán làm ức chế cấp dưới.

Tự tin và tin tưởng cấp dưới

Nhà lãnh đạo cần phải tự tin để tạo dựng niềm tin cho tập thể mình đang điều hành. Trong những lúc doanh nghiệp đương đầu với khó khăn, sóng gió, sự tự tin (một phần lớn là nhờ sự bình tĩnh/trầm tĩnh) giúp giữ vững được niềm tin, khơi động được sức mạnh tổng hợp của tập thể.

Cứ hình dung vị người tướng đưa quân sang sông trong một cơn bão táp, tự tin chờ quân sang đến nơi mới đến phiên mình qua sông. Trong tình huống đó, đội hình của quân sang sông dù sóng gió vẫn chỉnh tề, nhịp nhàng và đầy quả cảm trước khó khăn.

Sự tự tin của nhân viên còn được tạo ra khi người lãnh đạo và điều hành tin tưởng cấp dưới để ủy quyền. Khi quân tướng đã một lòng, chiến thắng là điều có thể, rất có thể! Đây là một điều rất quan trọng mà người lãnh đạo không nên bỏ qua

Can đảm

Dám nhận sứ mệnh lãnh đạo và điều hành một tập thể, đó là sự can đảm. Bởi vì sự thành công hay thất bại của người lãnh đạo đều có ảnh hưởng rất lớn tới từng cá nhân trong tập thể đó, từ yếu tố tinh thần đến vấn đề kinh tế.

Can đảm để lắng nghe những phản biện của cấp dưới. Can đảm để sửa sai và công nhận sự sai lầm của mình một cách chân tình. Người lãnh đạo và điều hành một khi đã biết dấn thân và chấp nhận rủi ro thì đôi lúc cũng phải can đảm đưa ra những quyết định - đã được cân nhắc - dù không được đa số đồng ý

Lo xa

Hôm qua, hôm nay, ngày mai có biết bao nhiêu rủi ro tiềm ẩn và cũng có nhiều cơ hội để phát triển. Người lãnh đạo và điều hành phải biết giải bài toán tài chính rất mâu thuẫn: vừa hào sảng lại vừa cần kiệm. Nhà lãnh đạo và điều hành phải biết biến mâu thuẫn thành sức mạnh cấp số nhân, chuyển bại thành thắng, chuyển thắng thành thắng to mà nhân viên của mình không phải quá gian khổ.

Trân trọng

Trân trọng không phải là một mỹ từ mà là một đức tính. Trong những bài phát biểu hay trong những văn bản, mỹ từ “trân trọng” được sử dụng đến độ trở thành sáo rỗng.

Thật ra, trân trọng là một đức tính cơ bản của người lãnh đạo và điều hành, như Lưu Bị trân trọng Khổng Minh, Nguyễn Huệ trân trọng danh sĩ Nguyễn Thiệp... Doanh nghiệp sẽ có sức mạnh nếu biết trân trọng công sức từng con người, từng bộ phận trong tập thể đó. Sự trân trọng của người lãnh đạo và điều hành càng được thể hiện rõ nét khi họ hiện diện, chỉ đạo, chia sẻ cùng cấp dưới trong những lúc phải đối đầu với tình huống gian lao, khó khăn

Kiên định

Kiên định không phải là bướng bỉnh, ngang tàng và nhất định không phải là ngông cuồng. Tính kiên định hàm chứa một lý tưởng mà người lãnh đạo và điều hành nhận lãnh như một sứ mệnh để phục vụ doanh nghiệp, tập thể mà mình là người đứng đầu.

Lịch sử đã chứng minh những thành công rực rỡ đòi hỏi sự kiên định. Thủ trưởng kiên định, cấp dưới kiên định, tập thể kiên định trong bình tĩnh, tự tin, can đảm và biết lo xa trong sự trân trọng công sức từng cá nhân.

Chủ kiến

Người lãnh đạo và điều hành luôn luôn có một bộ máy tham mưu giúp việc, nhưng nếu người lãnh đạo và điều hành không có chủ kiến sẽ rất khổ cho cấp dưới. Có chủ kiến không phải là chủ nghĩa anh hùng cá nhân. Lãnh đạo là người tư duy, hành động... dám thay đổi chủ kiến của mình khi cần phải thay đổi. Chủ kiến và khiêm cung không mâu thuẫn.

Lương tâm

Lương tâm có thể nói vắn tắt là sống có đạo, đạo ở đây là đạo trời, đạo sư, đạo cha mẹ... Đây là một tư tưởng thấm nhuần trong nền văn hóa của nhân loại. Làm kinh tế cũng thế. Có thể áp dụng tư tưởng của Ernest Renan để nói rằng: “Kinh tế mà không lương tâm chỉ là sự sụp đổ của tâm hồn”. Và cũng vì lẽ đó mà tôi trân trọng tư tưởng “Kinh tế thị trường trong định hướng xã hội”.

Thiết nghĩ, nếu có tám đức tính trên, người lãnh đạo và điều hành sẽ thấy yêu đời, yêu người và yêu mình.

Ai nói rằng làm kinh tế là khổ?
< Theo Thời báo kinh tế Sài Gòn >
Đọc thêm »

Thứ Hai, 4 tháng 4, 2011

Walt Disney và chuyện cổ tích vẽ từ niềm đam mê

Rất nhiều người thắc mắc, điều kỳ diệu nào đã làm nên thành công của Disney. Câu trả lời của ông là: "Toàn bộ những thứ có được hôm nay đều được bắt đầu với một ước mơ và một con chuột". Với ông, "cách tốt nhất để bắt đầu là không nói nữa và bắt tay vào làm việc", nhưng ông cũng hoàn toàn ý thức được rằng: "Một con người không nên phớt lờ gia đình để lao vào kinh doanh".
Hành trình theo đuổi niềm đam mê

Walter Elias Disney
Walter Elias Disney
Ngày sinh: 5/12/1901.
Ngày mất: 15/12/1966
Bố: Elias Disney
Mẹ: Flora Call Disney
Chị gái: Ruth Disney
Ba anh trai: Roy Disney, Ray Disney, Hubert Disney
Vợ Lillian Bonds
Hai con gái Diane Disney Miller và Sharon Disney Lund.
Tuổi thơ êm đềm của cậu bé Walt Disney trôi qua tại một trang trại ở Marceline, bang Missouri, bên cạnh bốn người anh chị của mình.
Những khám phá về một thế giới bên trong trang trại đã trở thành khởi nguồn cho một niềm say mê kỳ lạ của Disney: đó là vẽ. Cậu bé lưu giữ tất cả những hình ảnh đó bằng nét vẽ. Cậu miệt mài vẽ và vẽ tất cả những gì có thể. Và bằng những mẩu than đá, cậu bé sáng tạo nên một thế giới diệu kỳ của riêng cậu trên mọi chất liệu. Trên những mẩu giấy vệ sinh, cậu vẽ nên những tác phẩm đầu đời...
Năm Disney lên bảy, cậu đã biết kiếm những đồng tiền đầu tiên từ chính niềm đam mê của mình. Một bác sĩ nghỉ hưu sống gần nhà Disney đã trả tiền để cậu vẽ tranh về con ngựa của ông ta. Nhưng cũng vì quá ham mê vẽ tranh nên cậu bé bỏ bê luôn cả việc học. Bố mẹ cậu không hài lòng chút nào về việc này. Họ đã cất hết đồ vẽ của cậu, và cậu chỉ được phép vẽ tiếp khi nào chăm chỉ đi học trở lại.

Với Walt Disney, quãng thời gian thơ ấu đó là những năm tháng đẹp nhất trong đời...
Những tháng ngày bình yên ở trang trại sớm kết thúc vào năm Disney tròn tám tuổi. Bố của cậu bị bệnh thương hàn và không thể làm việc được nữa. Trang trại phải bán đi và gia đình Disney chuyển đến thành phố Kansas. Ở đó, niềm say mê với cây bút vẽ bị gác lại vì cậu phải kiếm tiền. Cậu phải thức giấc vào lúc 3 giờ sáng để rao báo trên các khu phố.
Trong ý nghĩ của các thầy cô giáo, Disney chỉ là một cậu học trò trung bình, với thiên hướng là làm cho mọi thứ nguệch ngoạc hơn là biết vâng lời. 15 tuổi, cậu nhận việc làm thêm vào dịp hè ở nhà ga Santa, bán các thứ lặt vặt cho khách. Nhưng rồi, Disney lại thấy thích thú với những chuyến ngao du trên tàu hơn là việc bán hàng. Lên trung học, cậu dành phần lớn thời gian để vẽ tranh cho báo trường và không mấy để tâm tới các môn học khác. Hầu hết khoảng thời gian buổi tối của cậu đều dành cho lớp học ở Viện nghệ thuật Chicago.
16 tuổi, Disney rời trường học để gia nhập quân đội, nhưng vì quá nhỏ nên cậu bị từ chối. Sau đó, cậu quyết định làm giả mạo giấy khai sinh và tham gia Tổ chức Chữ thập đỏ Mỹ, nhưng thời điểm cậu hoàn thành xong khóa đào tạo thì cũng là lúc chiến tranh kết thúc. Disney quyết định ở lại Pháp và làm lái xe cứu thương. Không giống như những chiếc xe cứu thương khác, chiếc xe của Disney được trang hoàng bằng rất nhiều tranh cổ động do cậu sáng tạo. Sau hai năm bôn ba và trải nghiệm cuộc sống một mình tại châu Âu, chàng trai trẻ Disney chợt nhận ra một điều vô cùng quan trọng. Và cậu đưa ra một quyết định rất nghiêm túc: trở về Mỹ.
Về Mỹ, Disney chạy thật nhanh về nhà gặp cả gia đình. Hứng khởi và đầy hồi hộp, cậu muốn chia sẻ với họ niềm đam mê mà bấy lâu hằng tìm kiếm. Cậu nói với cả nhà rằng: "Con sẽ trở thành một họa sĩ hoạt hình!". Tràn ngập trong hạnh phúc của niềm đam mê nghệ thuật chân chính, chàng họa sĩ trẻ Walt Disney chờ đợi những lời ủng hộ thốt lên, những cái ôm xiết chặt và những nụ cười rạng rỡ. Nhưng, thông điệp mà cậu nhận được là một cái lắc đầu của bố...
Không chịu bỏ cuộc, với sự hỗ trợ của anh Roy, Disney đã tìm được việc in các tấm quảng cáo ở Phòng Mỹ thuật Pesemen - Rubin. Tại đây, Disney tiếp tục thử nghiệm thể loại hoạt hình. Disney nhanh chóng bị cuốn vào khả năng có thể làm ra phim hoạt hình. Lúc này, Disney vô cùng thỏa chí khi tìm được điều mình thực sự thích thú. Và Disney bắt đầu nghĩ đến việc sinh lợi...

Vẽ ý tưởng thành lợi nhuận
Trong lúc làm việc ở Phòng Mỹ thuật Pesemen-Rubin, Disney đã gặp Ubbe Iwwerks - một người vẽ tranh biếm họa. Hai người trở thành bạn thân. Họ chia sẻ ý tưởng, niềm đam mê và quyết định cùng nhau lập ra công ty đầu tiên có tên là Iwerks-Disney Commercial Artists. Nhưng, những kỳ vọng của hai người đã bị dập tắt chỉ sau một tháng công ty hoạt động. Có quá ít khách hàng tìm tới họ. Cả hai đến làm việc ở hãng quảng cáo thành phố Kansas - nơi họ tiếp tục thử nghiệm phim hoạt hình với các kỹ thuật khác nhau. Sau 2 năm, Disney vẫn chưa tìm hài lòng, ông bỏ việc để mở công ty thứ hai.

Chuột Mickey

Chuột Mickey - đối với tôi là biểu tượng của hoà bình. Đến phút chót, cậu ấy đến với tôi như một vị cứu tinh. Cậu ta nhảy tọt ra khỏi đầu tôi trên một tập giấy vẽ... trên chuyến xe lửa từ Mahattan đến Hollywood trong lúc sự nghiệp của anh trai Roy và tôi đang ở mức tệ hại nhất của thời kỳ suy sụp và thảm hoạ thì kề bên... Anh bạn nhỏ sinh ra trong tình trạng cấp thiết, và đã thực sự giải phóng chúng tôi ra khỏi tâm trạng lo lắng lúc đó. Cậu ta đã giúp chúng tôi mở rộng tổ chức và đã đưa phim hoạt hình lên những cấp độ giải trí mới. Cậu ta đã làm cho sản phẩm của chúng tôi bán rất chạy" - Walt Disney

Công ty thứ hai mà Disney thành lập có tên là Hãng phim Laugh-O-Gram, chuyên sản xuất những phim hoạt hình ngắn dựa trên các câu chuyện của trẻ em. Các phim của Disney thu được thành công ở Kansas, nhưng ở nơi khác thì lại không thu được nhiều lợi nhuận. Trong khi đó, việc duy trì các bộ phim lại ngốn rất nhiều tiền. Alice ở xứ sở thần tiên có thể là câu chuyện ngắn cuối cùng trước khi công ty này phá sản vào năm 1923.
Vẫn cương quyết theo đuổi niềm đam mê của mình, Disney bán máy quay và mua vé tàu một chiều tới Los Angeles, California. Ông nộp đơn khắp nơi để xin làm đạo diễn phim nhưng các hãng phim đều cự tuyệt.
Disney quyết định quay trở lại với phim hoạt hình.
Ông gửi một bản copy của vở Alice ở xứ sở diệu kỳ tới một nhà phân phối ở New York, vì có người muốn hợp tác với Disney. Sau khi thuyết phục người anh trai giúp mình về tài chính và thuyết phục Iwwerks chuyển đến California, họ chính thức thành lập xưởng phim Anh em nhà Disney. Ông cũng thuê một họa sĩ có tên là Lillian Bounds - người sau này trở thành vợ của ông.
Sau 4 năm thành công khiêm tốn, loạt hài kịch Alice kết thúc. Hãng Universal Pictures ủy quyền cho Disney với loạt phim mới có tên gọi "Chú chuột may mắn Oswald". Loạt phim này đã mang lại thành công cho hãng và tiếp tục được xưởng Disney mở rộng quy mô. Nhưng sau một tranh cãi với nhà phân phối, Disney mất hết quyền hành với Oswald cũng như với hầu hết nhân viên.
Walt Disney vẫn không chịu bỏ cuộc, lúc nào trong đầu ông cũng đầy ắp ý tưởng. Ông hiểu rõ, trên phương diện hội họa mình thua xa các họa sĩ làm việc tại xưởng phim. Ông phác thảo sơ lược ý tưởng, rồi mô tả chi tiết bằng lời về nhân vật hoạt hình mà ông muốn thể hiện, từ đó các họa sĩ dưới quyền sẽ định hình.

Thành công không phụ những nỗ lực sáng tạo không ngừng của Disney. Năm 1928, Disney bật lên thành công rực rỡ với sự sáng tạo nổi tiếng nhất trong nghề nghiệp của mình: chuột Mickey. Chuột Mickey xuất hiện lần đầu tiên ở Steamboat Willie - vở hoạt hình khớp âm thanh đầu tiên trên thế giới. Ngay từ khi ra đời, chuột Mickey đã được Disney trao cho một sứ mệnh đặc biệt: "Tất cả những gì chúng tôi muốn và mong đợi ở cậu ấy là mọi người sẽ cười khúc khích với cậu và cười khi thấy cậu ta. Chúng tôi không muốn đặt Mickey thành biểu tượng nào cho xã hội. Chúng tôi không làm cậu ta trở thành người phát ngôn cho sự thất bại hay cho sự mỉa mai thô lỗ. Mickey chỉ đơn giản là một nhân vật nhỏ được giao nhiệm vụ mang đến tiếng cười”.
Trong khi chuộc Mickey làm mưa làm gió trên thị trường thì Disney tiếp tục cho ra đời loạt phim Silly Symphonies. Do không hài lòng với việc chia sẻ lợi nhuận, Disney ký hợp đồng phân phối mới với hãng Columbia Pictures. Sau đó, Iwwerk bỏ Disney để thành lập phòng chiếu riêng và Disney bắt buộc phải thay thế ông bằng nhiều nhà sản xuất phim khác. Thành công của Disney với chuột Mickey được trao giải thưởng Hàn lâm năm 1932.
Danh sách các nhân vật hoạt hình như vịt Donald, Goofy và các nhân vật khác trong loạt phim, đã mang lại thành công lớn. Nhưng Disney vẫn chưa dừng lại, ông tiếp tục chinh phục lĩnh vực phim hoạt hình. Năm 1934, mặc dù cả gia đình và đồng nghiệp đều can ngăn, Disney vẫn theo đuổi việc sản xuất bộ phim dài tập về nàng Bạch Tuyết. Những khoản thu khổng lồ đã chứng minh rằng Disney hoàn toàn đúng. Sau 2 năm và với khoản tiền lớn từ ngân hàng Mỹ, Nàng Bạch Tuyết và bảy chú lùn vươn lên đứng đầu, trở thành bộ phim hoạt hình thành công nhất năm 1938, và thu được số tiền tương đương 98 triệu đô ngày nay.

Xưởng phim Disney tiếp tục bành trướng, cho ra một loạt tác phẩm hoạt hình kinh điển như Pinocchio, Chú nai Bambi và Chú voi biết bay Dumbo. Trong suốt chiến tranh thế giới lần II, hãng cũng được phép sản xuất phim cho quân đội. Cho đến tận cuối những năm 1940, xưởng phim lại gây nên chấn động với những phim động như Hai vạn dặm dưới đáy biển và Bẫy phụ huynh.

Không dừng lại ở những bộ phim cổ tích về thế giới chỉ trong tưởng tượng, Disney quyết tâm xây dựng nên một thế giới cổ tích thật sự hiện hữu. "Tại sao lại không thể?" - Disney chợt nghĩ khi đi thăm công viên trẻ em ở Oakland, California. Và ông nghĩ tới một vùng đất trong theo đúng trí tưởng tượng của Disney, với tên gọi Disneyland.
5 năm sau, Disney thành lập Hãng WED để xây dựng công viên ở Anaheim và khai trương vào 18/07/1955. Nhưng công viên đó vẫn chưa làm Disney thật sự thỏa mãn. Tới năm 1964, Disney quyết định tạo ra thế giới Disney, một phiên bản giống như vậy nhưng rộng hơn xứ sở Disney ở Florida. Disneyland đã trở thành một hiện tượng trên toàn cầu. Disney đã làm được một điều thần kỳ, đó là hiện thực hóa các câu chuyện cổ tích.
Hiện nay, Disneyland trở thành thiên đường cho không chỉ trẻ em, mà còn với cả người lớn. Còn với riêng cá nhân Walt Disney, Disneyland cũng là một thiên đường mà ở đó, ông đã thỏa mãn được niềm đam mê hoạt hình, và biến nó thành rất nhiều kho vàng...

Mở rộng thương hiệu
Disney là người đi đầu trong việc phát triển thương hiệu và việc kinh doanh. Luôn suy nghĩ về cách để có thể mở rộng thương hiệu, Disney đã thiết lập những tiêu chuẩn mới về khả năng kinh doanh thương hiệu của mình.
Từ các kỹ thuật phát triển cho tới chiến dịch kinh doanh sản phẩm, Disney đã khai phá ra các nền tảng mới và sử dụng trí tưởng tượng của mình để mở rộng con đường đi tới đỉnh cao. Ông thường sử dụng nhiều chiến lược quảng cáo để truyền thông điệp trước khán giả như áp phích quảng cáo, quảng cáo trên truyền hình, chiến dịch thư điện tử trực tiếp và thậm chí ngay cả các cửa hàng tạp phẩm. Ông tìm hiểu kỹ thị trường để làm cho mọi người thấy rằng họ không thể quên được ông là ai.
Ý tưởng xây dựng một công viên giải trí bắt đầu hình thành năm 1953. Ông tập hợp mượn số tiền bảo hiểm của ông và tập hợp nhân viên thành lập hội WED (viết tắt của tên ông - Walter Eilas Disney) để tổ chức dự án. Tháng 2/1954, những kế hoạch cho công viên Disneyland và chương trình truyền hình được công bố.
Loạt chương trình của Walt nói về sự hấp dẫn của công viên bắt đầu vào tháng 10/1955 và đều do chính ông dẫn. Và Disneyland - sản phẩm kết tinh của sự sáng tạo với những kỹ thuật hiện đại đã chính thức mở cửa vào ngày 17/7/1955.
Disneyland được khải trương bằng một lễ hội do các vị khách danh dự chủ trì. Ông mời tới 11 nghìn người, hầu hết là các nhân vật danh tiếng và những người quyền cao chức trọng. Trên thực tế, có đến 30 nghìn người có mặt. Sau đó, ông quyết định phải tường thuật trực tiếp chương trình trên truyền hình. Với 29 máy và 63 chuyên gia kỹ thuật, chương trình 90 phút đã tốn 11 triệu đô la. Nhưng nó thật đáng "đồng tiền bát gạo". Theo ước tính có đến 90 triệu người theo dõi sự kiện đó, ngoài ra còn rất nhiều người khác đã biết Disney là ai và mọi người đều háo hức được tận mắt trông thấy Disneyland như thế nào.
Disney xem Disneyland "là điều tôi có thể liên tục phát triển và "nghiện" nó", và đúng như Disney từng tuyên bố: "Sẽ không có thêm một công viên nào như Disneyland cả".
Với Disney "khi chúng tôi xem xét một dự án, chúng tôi thực sự nghiên cứu nó, không chỉ là ý tưởng bề nổi mà mọi thứ về nó". Tài năng kinh doanh của Disney nằm ở việc đầu tư đúng vào các tiềm năng để phát triển thị trường. Điều đó thể hiện qua việc đầu tư vào bộ phim "Nàng Bạch Tuyết và Bảy chú lùn". Đây không chỉ là bộ phim hoạt hình đầu tiên có các nhân vật có kích thước như thật mà nó còn là bộ phim đầu tiên có một chiến dịch kinh doanh các sản phẩm đi kèm. Kể từ đó, 25% lợi nhuận của công ty đến từ việc bán các sản phẩm cho khách hàng.
Disney sử dụng các phim của mình một cách rất thông minh. Từ các bộ phim, một loạt các sản phẩm liên quan như búp bê, đồ chơi, các trò chơi đã thu hút khách tới công viên của ông. Disneyland nhanh chóng trở thành một cách thúc đẩy lợi nhuận lý tưởng và Disney không bỏ qua bất kỳ cơ hội nào. Trong công viên có một lâu đài và đó chính là một sự quảng bá từ rất sớm cho bộ phim "Người đẹp ngủ trong rừng" mà 4 năm sau khi khai trương Disneyland mới công chiếu.
Tầm nhìn của Disney chưa bao giờ ngừng. Ông không ngừng tìm kiếm cơ hội để mở rộng hoạt động. Sau thành công của Disneyland ở California, Disney đã nhận ra rằng nó không chỉ thu được lợi nhuận trong nước, mà có thể mở rộng ra toàn thế giới. Việc xây dựng thế giới Walt Disney được bắt đầu 1 năm sau khi Disney mất và thành công vẫn tiếp diễn kể cả khi không có mặt của người sáng lập. Ngày nay, công viên và khu nghỉ mát Disney mang lại hàng tỉ đô lợi nhuận mỗi năm cho công ty Walt Disney.

Theo đuổi ước mơ
Walt Disney được ví như một ông tiên có thể biến ước mơ thành hiện thực. Ông cho rằng: "Trời đã sinh ra tôi là một kẻ hiếu kỳ, khi nhìn thấy bất cứ một cái gì mà tôi không thích, tôi đều nghĩ tại sao lại như vậy và tôi có thể làm gì để thay đổi điều này". Và với ông, "cách tốt nhất để tạo ra một điều gì đó là không nói nữa và bắt tay vào hành động".
Disney đã trải qua 3 năm khó nhọc để sản xuất phim "Nàng Bạch Tuyết và Bảy chú lùn". Trước đó, chưa từng có bộ phim hoạt hình nào có nhân vật với kích thước như người thật, với đầy màu sắc và âm nhạc. Từ các đối thủ cạnh tranh đến các đối tác, thậm chí ngay cả vợ của ông cũng không tin rằng nó có thể thu được thành công.


Ngân sách ban đầu chỉ có khoảng 500.000 đô la, thế mà dự án đã chi vượt ngân sách nửa triệu đô khi ngay từ đầu. Disney đã bắt buộc phải bước ra khỏi câu chuyện cổ tích để tìm đến các ông chủ ngân hàng để vay thêm khoản tiền cần thiết để hoàn thành bộ phim. Cuối cùng, "Nàng Bạch Tuyết và Bảy chú lùn" đã kiếm được số tiền gấp 4 lần chi phí khi nó được công chiếu vào năm 1938.
Điều mang lại thành công cho Disney chính là đam mê và quyết tâm hoàn thành dự án. Và đó cũng là đặc điểm mà Disney đã mang đến trong suốt sự nghiệp của mình. "Khi bạn tin vào một điều gì đó, hãy tin nó hoàn toàn và đừng nghi ngờ vô lý" - Disney nói. "Khi tôi đề ra một dự án mới, tôi tin tưởng nó trên mọi phương diện. Chúng tôi tin vào khả năng sẽ làm nó đúng. Và chúng tôi làm việc chăm chỉ để làm công việc tốt nhất có thể".
Nàng Bạch Tuyết và Bảy chú lùn

Trong toàn bộ sự nghiệp của Disney, ông được thử thách bằng những lời phản hồi, sự phê bình và những người nghi ngờ khả năng của ông. Disneyland từng là ý tưởng bị chế nhạo nhiều nhất. Chỉ một số rất ít các nhà đầu tư thấy khả năng tài chính trong việc xây dựng công viên hơn 100 hecta ở California. "Disneyland là công trình của tình yêu" - Disney nói. "Chúng tôi không mở ra Disneyland chỉ để kiếm tiền. Chúng tôi làm nó vì biết rằng hầu hết những người mà chúng tôi nói chuyện nghĩ rằng đó là một thảm họa về tài chính - rồi nó sẽ bị đóng cửa và quên lãng ngay trong năm đầu tiên". Hơn thế, Disneyland cũng giống như tất cả những mạo hiểm kinh doanh của Disney, là công trình của đam mê và tình yêu, kết quả là nó đã mang lại những thành công lớn lao.

"Khi chúng tôi mở Disneyland, có rất nhiều người có ấn tượng rằng nó sẽ là thứ làm cho chúng tôi phát tài nhanh chóng, nhưng họ không nhận ra rằng đằng sau Disneyland là tổ chức - xưởng phim mà tôi xây dựng. Tất cả họ đều bỏ công sức vào đó và chúng tôi thực hiện nó vì chúng tôi yêu thích thực hiện nó". Cho dù thành công của nó, thậm chí những năm sau đó Disney đã có một thời gian rất khó khăn nhưng kinh nghiệm từ trước đó cho biết, ông sẽ không bao giờ bỏ cuộc.

"Khi bạn tò mò, bạn thấy có rất nhiều điều thú vị để làm", Disney nghĩ vậy. Và một điều để thực hiện mọi thứ là lòng can đảm, như cách Disney can đảm theo đuổi ước mơ của mình. Ở tuổi 65, ông mất vì căn bệnh ung thư phổi nhưng xác của ông được giữ lại và ướp lạnh ở trạng thái tiềm sinh. Nhiều người tin rằng, một ngày nào đó, khi y học tìm ra thuốc chữa bệnh ung thư, Walt Disney sẽ hồi sinh. Điều tưởng chừng không thể ấy biết đâu sẽ trở thành "có thể", nhất là với một người dành trọn đời mình để biến ước mơ thành hiện thực như Walt Disney.

Những triết lý của Walt Disney
* Tôi thực sự thích việc phục vụ mọi người, mang lại cho mọi người sự hài lòng, đặc biệt là mang tiếng cười đến người khác hơn là quan tâm đến việc tự diễn tả bản thân với những cách thể hiện sáng tạo này nọ.

* Chúng tôi không cố gắng để phục vụ những kẻ phê mình. Tôi sẽ nắm lấy cơ hội của mình với đám đông.

* Bạn có thể thiết kế, sáng tạo và xây dựng nơi tốt đẹp nhất trên thế giới. Nhưng bạn cần con người để có thể biến ước mơ thành hiện thực.

* Khi bạn tò mò, bạn sẽ thấy có thật nhiều điều thú vị. Và thứ cần để thực hiện mọi việc chính là lòng can đảm.

* Tôi không thích những khu vườn được tỉa tót. Tôi thích thiên nhiên hoang dã. Có lẽ đó chính là bản năng hoang dại trong tôi.

* Tôi tin rằng không có tầm cao nào mà một người nắm được bí quyết của việc biến giấc mơ thành sự thật lại không thể vươn tới. Bí quyết đặc biệt này có thể tóm tắt trong 4 chữ C: Tò mò (Curiosity), Tự tin (Confidence), Can đảm (Courage) và Kiên nhẫn (Constancy). Khi bạn tin một điều gì đó, hãy tin nó trọn vẹn, đơn giản và không nghi ngờ.

* Tôi chưa bao giờ gọi công việc của mình là một nghệ thuật. Đó là một phần của việc kinh doanh, ngành kinh doanh giải trí.

* Tôi không bị ảnh hưởng bởi các kỹ thuật hoặc mẫu mã của bất kỳ công ty điện ảnh nào khác.

* Bất kỳ khi nào tôi lái xe, tôi luôn nghĩ mọi việc có vấn đề gì không và có thể được cải thiện như thế nào.

* Cách để bắt đầu là thôi không nói nữa và bắt tay vào làm việc.

* Bạn sẽ thất bại nếu bạn chỉ nhắm vào trẻ em. Người lớn cũng chỉ là những đứa trẻ đã trưởng thành. 

Disneyland


* Tôi đã đối mặt với sự cạnh tranh khốc liệt trong toàn bộ cuộc đời. Tôi không biết làm sao để sống mà không có nó.

* Tôi không sử dụng những người mà chỉ có vai trò trang trí khi tham gia vào một việc nào đó. Tôi cũng không dùng những người mà họ ở xung quanh mình chỉ vì sự nổi tiếng của mình.

* Khi tôi xem xét một dự án, chúng tôi thực sự nghiên cứu nó - không chỉ là ý tưởng bề nổi mà mọi thứ xung quanh nó. Khi chúng tôi tham gia vào dự án mới đó, chúng tôi tin tưởng nó bằng mọi giá. Chúng tôi tự tin vào khả năng sẽ làm nó đúng. Chúng tôi làm việc chăm chỉ để làm công việc tốt nhất có thể.

* Vấn đề lớn nhất? Tôi nói đó là vấn đề lớn nhất trong toàn bộ cuộc đời tôi. Tiền. Cần rất nhiều tiền để có thể biến những giấc mơ này thành hiện thực. Ngay từ những ngày đầu, nó đã là một vấn đề. Có tiền để mở Disneyland. Nó mất khoảng 17 tỉ. Và chúng tôi đã thế chấp tất cả, cả bảo hiểm cá nhân của tôi.

* Khi mở ra Disneyland, rất nhiều người có ấn tượng rằng nó sẽ là thứ để kiếm tiền nhanh chóng, nhưng không ai nhận ra rằng đằng sau Disneyland là một tổ chức lớn, và tất cả chúng tôi tham gia làm nó vì chúng tôi yêu nó.

* Chúng tôi vẫn làm Disneyland khi mà hầu hết mọi người nói rằng nó sẽ là một thảm họa về tài chính - sẽ bị đóng cửa và quên lãng ngay trong năm đầu tiên.

* Disneyland là công trình của tình yêu. Chúng tôi không chỉ tạo ra Disneyland chỉ vì ý tưởng kiếm tiền.

* Nếu bạn có thể mơ ước điều đó, bạn có thể làm nó.
* Tôi không có cảm giác suy kiệt. Tôi vui vẻ, chỉ vui vẻ, vui vẻ mà thôi.
Đọc thêm »

Chủ Nhật, 3 tháng 4, 2011

Thượng sách của im lặng

 Thời gian gần đây báo chí xôn xao về chuyện "khỏa thân vì môi trường" của cô người mẫu và anh họa sĩ nhà mình. Dù đó có là một "hành động nghĩa hiệp" bảo vệ môi trường thật hay chỉ đơn giản là pr bản thân thì họ ít nhất cũng đạt được mục đích của mình đó là được rất nhiều người biết tới, tất nhiên là "bảo vệ môi trường" cũng cần nhiều người biết rồi. "Sự kiện" này mình sẽ xếp vào hình thức marketing gây sốc - ở Việt Nam thì khỏa thân còn rất mới mẻ, và cũng không phù hợp vs nền văn hóa của nước ta vì vậy mình thấy đây là hình thức hợp lý nhất. Dưới đây mình xin chia sẻ bài viết của tác giả Phan Đăng - tạp chí Tuổi Trẻ để mọi người có cái nhìn rõ hơn về cách mà chúng ta tham gia "tự nguyện" vào hình thức marketing này như thế nào.
1. Tôi nghĩ mình đã mắc mưu cái cô người mẫu đột nhiên khỏa thân rồi giải thích là “khỏa thân vì môi trường” khi ngồi viết những dòng này. Mắc mưu là bởi khi quyết định “khỏa thân” có lẽ cô người mẫu chỉ đợi tôi và những nhà báo như tôi ngồi viết về cô ta.
khỏa thân, bảo vệ môi trường, ngọc quyên
Bộ ảnh khỏa thân "bảo vệ môi trường". Đang gây sự chú ý lớn trong xã hội.
Xin nhấn mạnh là chỉ dừng ở chỗ “viết về cô ta” thôi nhé, còn viết để xưng tụng, ngợi ca hay để chỉ trích, bài bác, viết bằng sự nhiệt thành, tâm huyết hay bằng thói mỉa mai giễu cợt, tất cả đều không quan trọng. Với nhiều cô cậu đang muốn làm nghệ sĩ, cái quan trọng là mình được người ta viết, người ta bàn tán để cái tên vốn chẳng mấy ai biết của mình được nổi tiếng - thế là đạt mục đích rồi!
Nghĩ thế nên ngay từ khi câu chuyện “khỏa thân vì môi trường” xuất hiện, tôi - trong tư cách một nhà báo - đã tự nhủ là sẽ im lặng vĩnh cửu, giống như sự im lặng mà truyền thông nước ngoài (kể cả những nền truyền thông bị mang tiếng là “lá cải”) vẫn luôn im lặng khi thấy những cô cậu người mẫu trình độ tầm tầm bỗng nhiên...khỏa thân trên phố. Nhưng rồi cuối cùng tôi đã phải chấp nhận bị mắc mưu, dù biết rằng đấy là một vụ mắc mưu đau đớn.
Tại sao lại chấp nhận ư? Tại vì ngay sau vụ này lại đã có một vụ khỏa thân vì môi trường của một anh họa sĩ khác làm cư dân mạng nháo nhào.
2. Từ vụ khỏa thân “ăn theo” của anh họa sĩ, chợt hỏi: Liệu có không nguy cơ sẽ xuất hiện cả một trào lưu khỏa thân trong giới nghệ sĩ nhà mình? Và nếu có (nghĩ đến cảnh này mà rùng rợn!) thì những công chúng trẻ tuổi liệu sẽ bị tác động tâm lý như thế nào?
Khi ấy, tôi đồ rằng trong não trạng những đứa trẻ sẽ xuất hiện một nhận thức nguy hiểm rằng: Bây giờ, bên cạnh việc chăm lo học hành thì một trong những cách vào đời tốt nhất và dễ nổi tiếng nhất là hãy... khỏa thân?
Thật ra, một hai người đầu tiên “khỏa thân vì môi trường” còn khiến người ta chú ý, chứ khi người người đua nhau “vì môi trường” kiểu này thì sự chú ý sẽ giảm đi nhiều. Nhưng trong khi số lượng những người “khỏa thân vì môi trường” vẫn nằm trong mức độ có thể gây sức hút, thì chúng ta buộc lòng phải nhìn rõ những tác hại thê thảm của hành động này.
Năm 2007, trước việc những dòng sông băng ở Thụy Sĩ bị tan chảy, hàng trăm người dân Thụy Sĩ đã khỏa thân ở ngay dòng sông đó để kêu gọi mọi người cùng xắn tay cứu dòng sông.
Như thế, việc khỏa thân vì môi trường đã diễn ra ở chính cái nơi mà môi trường đích thực cần bảo vệ. Nó khác 100% so với việc cô người mẫu ở ta đã săn lùng một trong những địa điểm đẹp nhất tại rừng núi Mộc Châu để mà khỏa thân. Lựa chọn này đích thực phải gọi là xúc phạm môi trường!
3. Song như đã nói, khi chúng ta ngồi kết án cô ta, cũng như đã từng (và có thể là sẽ tiếp tục) kết án hàng loạt vụ xìcăngđan khác trong giới nghệ sĩ thì có lẽ chúng ta cũng đã mắc mưu họ rồi. Thế thì phải làm gì mới không bị... mắc mưu?
Cô người mẫu hay anh họa sĩ, hay ai đó nữa thích khỏa thân thì cứ việc (bởi xét cho cùng đấy là quyền của họ), nhưng nếu những hình ảnh khỏa thân ấy không được ào ào đưa lên mạng, nếu cái hiện tượng khỏa thân ấy không được truyền thông xầm xì mổ xẻ, nếu cái mục tiêu rất cao cả là “khỏa thân vì môi trường” ấy không được dư luận bàn tán thì chắc chắn những hành động khó coi đó chẳng có cơ hội để “vang danh”.
Tất nhiên, khi chuyện đã xảy ra thì không thể ngồi đó mà ước ao theo kiểu: ước gì người ta sẽ không ồn ào mổ xẻ một vụ tai tiếng như thế. Nhưng ước vậy cũng chẳng thừa, bởi nó sẽ cho ta một bài học để từ nay về sau nếu có nghệ sĩ nào đột nhiên khỏa thân “vì môi trường” thì ta cũng biết cách mà ứng phó. Mà cách ấy đơn giản lắm: một là cứ tảng lờ, hai là hãy cứ liếc qua (nếu thích) nhưng liếc rồi hãy cùng nhau tuyệt nhiên im lặng.
Tin tôi đi, khi chúng ta đồng loạt im lặng thì ngay cả khi môi trường có yêu cầu các nghệ sĩ hãy khỏa thân để cứu môi trường chăng nữa thì họ rồi cũng sẽ... mặc quần áo như thường mà thôi (?).
Đọc thêm »

4 thói quen để trở thành triệu phú

Các triệu phú cũng chỉ có 24 tiếng/ngày như chúng ta, cũng sống dưới một bầu trời và hít chung một bầu không khí, vậy tại sao họ giàu còn chúng ta thì không?
thói quen,triệu phú, qunr lí thời gian
Họ khác chúng ta ở đâu?

Các triệu phú lạc quan về nền kinh tế thế nhưng không giống như phần đông chúng ta, họ không tiêu sạch tiền vào thứ vô bổ như trò chơi điện tử hay đồ ăn thức uống vặt vãnh.

Thay vào đó, họ quan tâm đến việc giữ tiền và kiếm thêm tiền.

Một khảo sát được thực hiện với triệu phú Mỹ gần đây cho người ta thấy triệu phú làm gì với tiền của họ trong năm nay.

Ưu tiên quan trọng nhất là họ sẽ trả bớt nợ và tiết kiệm tiền. Một triệu phú trong năm qua trung bình tiết kiệm được 39 nghìn USD và họ có kế hoạch sẽ tiết kiệm nhiều hơn trong năm nay.

Tuy nhiên họ cũng vẫn muốn đặt cược vào đà phục hồi kinh tế. Khoảng 45% cho biết họ sẽ đầu tư vào thị trường chứng khoán. 58% quan tâm đến lĩnh vực công nghệ; 48% quan tâm đến dược và 47% muốn đầu tư vào lĩnh vực y tế.

Sự quan tâm đối với vàng chưa chấm dứt: 41% muốn đầu tư vào vàng và 24% xem xét cơ hội đầu tư vào các kim loại quý khác.

Tuy nhiên các triệu phú chưa hết bi quan; 81% cho rằng họ không tin suy thoái kinh tế đã qua đi và chỉ duy nhất 2% tự coi mình trong nhóm nhà đầu tư táo bạo.

Quy tắc này không chỉ áp dụng với việc chi tiền mà còn trong cuộc sống và cách điều hành công việc kinh doanh.

Quản lý thời gian hiệu quả

Triệu phú cũng chỉ có 24 tiếng/ngày giống chúng ta thế nhưng việc họ sống và điều hành công việc kinh doanh thế nào cũng đáng quan tâm. Họ quản lý thời gian tốt hơn chúng ta. Trong khi phần lớn chúng ta về nhà và ngồi lì trước tivi, người giàu có đọc sách và làm những việc đóng góp cho thành công của họ trong tương lai.

Từ khi còn là một học sinh cấp 2 ở Seattle, Bill Gates thường rời nhà vào buổi đêm và cuối tuần để đến phòng máy tính. Ông làm lập trình từ khi học lớp 8. Ông không dành suốt khoảng thời gian rỗi rãi thời niên thiếu để xem tivi và mơ học môn khoa học máy tính tại trường đại học. Ông dành thời gian làm việc thực tế trên máy tính.

Cũng chẳng có gì ngạc nhiên khi sau này ông bỏ ngang đại học Harvard để khởi nghiệp với Microsoft, ông đơn giản chỉ luôn đi trước mọi người.

Steve Jobs, sáng lập viên của Apple trong bài phát biểu tại đại học Stanford vào năm 2005, đã cho mọi người biết về lịch hoạt động của ông và khẳng định ông luôn biết làm tất cả những gì cần thiết.

Jobs nói: “Khi tôi 17 tuổi, tôi biết đến câu nói nếu mỗi ngày bạn sống như thể đó là ngày cuối cùng trong cuộc đời, bạn sẽ thành công. Câu nói đó gây ấn tượng mạnh mẽ dến tôi và trong suốt 33 năm qua, tôi luôn nhìn vào gương và tự hỏi: có phải ngày cuối cùng của mình đã đến và mình sẽ làm gì hôm nay? Khi tôi đưa ra quá nhiều câu trả lời không, tôi hiểu tôi cần phải thay đổi điều gì đó.”

“Đừng bao giờ mút ngón tay”

Người giàu cũng hết sức quyết đoán.

Tỷ phú Warren Buffett đã từng khẳng định: “Đừng bao giờ mút ngón tay. Ở thời điểm nào đó, bạn cần phải dừng suy nghĩ tính toán lại và bắt đầu hành động.”

Hãy biết thu thập thông tin cần thiết trước người khác để đưa ra quyết định và nhờ mọi người theo dõi, nhắc nhở việc tuân thủ lịch trình để đảm bảo nó không đi chệch hướng.

Ông luôn đưa ra quyết định nhanh và trung thành với nó.

Theo ông, hành động chờ thời cơ và suy nghĩ linh tinh là “mút ngón tay”. Bất cứ khi nào được mời hợp tác làm ăn, ông đều trả lời: “Tôi không phản đối nếu bạn đưa ra biểu giá cụ thể.”

Hạn chế vay mượn

Người sống bằng tiền vay mượn và thẻ tín dụng sẽ không thể giàu được. Vì vậy, Warren Buffett không bao giờ vay khoản tiền lớn để tiêu dùng hay đầu tư.

Ông rất ghét thế chấp. Ông cho biết đã nhận được không ít lá thư từ nhóm người tưởng họ quản lý được nợ nần nhưng sau đó lại khốn khổ vì nó. Buffett khuyên chỉ nên mượn số tiền mà bạn có thể trả và đầu tư bằng tiền tiết kiệm của chính mình.

Luôn kiên trì

Với sự nhẫn nại và khéo léo, bạn sẽ có thể chiến thắng mọi đối thủ. Warren Buffett mua siêu thị đồ nội thất Nebraska Furniture Mart vào năm 1983 bởi thích phong cách kinh doanh của người chủ Rose Blumkin.

Là một người Mỹ gốc Nga, bà đã biến một cửa hiệu cầm đồ nhỏ thành cửa hàng trang trí đồ nội thất lớn nhất Bắc Mỹ.

Bà luôn bán hàng thấp hơn giá của các cửa hàng khác và mặc cả đến cùng giá mua vào.

Bà được coi như hiện thân của lòng can đảm và cố gắng đến cùng để chiến thắng trong cuộc chiến khốc liệt.
< Theo DNSG >
Đọc thêm »

22 quy luật bất biến trong Marketing

22,nguyên tắc, marketing1. Nguyên tắc về sự dẫn đầu.
Là sản phẩm đầu tiên bao giờ cũng có ưu thế hơn sản phẩm tốt hơn

2. Nguyên tắc về chủng loại.
Nếu bạn không thể là sản phẩm đầu tiên của một chủng loại, hãy thay đổi tính chất của chủng loại đó, hoặc tạo ra một chủng loại mới mà bạn có thể là sản phẩm đầu tiên.

3. Nguyên tắc bậc thang.
Chiến lược mà bạn sẽ áp dụng tuỳ thuộc vào nấc thang thứ mấy mà bạn đang đứng.

4. Nguyên tắc về song đôi.
Về lâu dài, mọi cuộc đua tranh rồi sẽ chỉ còn lại hai con ngựa.

5. Nguyên tắc về tư duy và nhận thức.
Marketing không phải là một trận chiến của các sản phẩm, nó là một trận chiến về nhận thức của khách hàng, và đôi khi chiếm lĩnh nhận thức của khách hàng trước tạo ra nhiều ưu thế hơn là thâm nhập thị trường trước.

6. Nguyên tắc về sự tập trung.
Khái niệm có tác động cao nhất trong marketing là sở hửu một từ trong tư duy của khách hàng tiềm năng.

7. Nguyên tắc về sự mở rộng.
Việc mở rộng thêm nhãn hiệu thường là một áp lực không thể cưỡng lại được.

8. Nguyên tắc về sự độc nhất và tính ưu việt
Sở hửu một vị trí ưu việt trong tư duy của khách hàng là yếu tố sống còn, marketing là một sự nỗ lực liên tục trong quá trình tìm kiếm sự độc nhất.

9. Nguyên tắc về sự phân chia.
Theo thời gian, một chủng loại sản phẩm sẽ phân chia và trở thành hai (hoặc nhiêu hơn) chủng loại.


10. Nguyên tắc của trái tim.
Chiến lược marketing mà không có yếu tố tình cảm thì sẽ không có hiệu quả.

11. Nguyên tắc về đặc tính
Khi bạn phải tập trung vào đặc tính sản phẩm, bất kỳ khía cạnh nào cũng có một đặc tính đối nghịch và hiệu quả.

12. Nguyên tắc về tính thật thà
Khi bạn chấp nhận một nhược điểm, khách hàng tiềm năng sẽ cho bạn một ưu điểm


13. Nguyên tắc về sự hy sinh.
Muốn được một thứ bạn phải từ bỏ một thứ khác.


14. Nguyên tắc về sự thành công.
Thành công thường dẫn đến kiêu ngạo, và kiêu ngạo dẫn đến thất bại

15. Nguyên tắc về sự thất bại
Thất bại là điều phải được dự kiến và được chấp nhận

16. Nguyên tắc về yếu tố không thể lường trước.
Trừ phi bạn chính là người soạn ra kế hoạch của đối thủ cạnh tranh, bạn không thể biết được điều gì sẽ xãy ra trong tương lại.


17. Nguyên tắc về sự cường điệu
Tình hình thực tế thường ngược lại với những gì xuất hiện trên báo.

18. Nguyên tắc về sự gia tốc
Các chương trình thành công thường không được xây dựng dựa trên mốt nhất thời mà dựa trên khuynh hướng

19. Nguyên tắc về viễn cảnh.
Hiệu ứng marketing thường xãy ra và kéo dài

20. Nguyên tắc về sự đối nghịch
Nếu bạn nhắm vào vị trì thứ hai, chiến lược của bạn do người dẫn đầu quyết định

21. Nguyên tắc về xuất xứ.
Xuất xứ của thương hiệu thường quan trọng hơn chất lượng


22. Nguyên lý về nguồn tài nguyên.
Không có đủ nguồn ngân sách và kiến thức chuyên môn cần thiết, ý tưởng không thể thành hiện thực và thương hiệu không thể được tạo nên.
Đọc thêm »

Chiêu Marketing: khan hiếm giả - thành công thật

"Khi cần - là có" chắc gì đã hay?". Sự kiện khai trương sản phẩm iPhone của Apple và tập 7 của bộ truyện Harry Potter là hai ví dụ xuất sắc về thủ thuật Marketing khan hiếm giả - thành công thật". Trong kinh doanh, những nhân viên marketing được đào tạo để hiểu rằng vai trò của họ là kết nối cung và cầu. Nhu cầu của người tiêu dùng phải luôn luôn được đáp ứng vào đúng thời điểm thích hợp , đúng chỗ và với giá cả hợp lý.
khan hiếm, marketing"Khi cần - là có" chắc gì đã hay?

Coca-Cola là một trong những hãng tuân thủ nghiêm ngặt nguyên tắc này. Phương châm của hãng là “khi khách hàng muốn là chúng tôi có mặt". Để xảy ra tình trạng hết hàng đồng nghĩa với việc mất hợp đồng bán hàng hay tệ hơn đánh mất khách hàng vào tay đối thủ cạnh tranh.

Tuy nhiên những nhân viên marketer cũng hiểu rằng, bằng cách dùng chiêu khan hiếm ảo, họ có thể đẩy nhanh nhu cầu của thị trường. Sự khan hiếm giả này khuyến khích khách mua hàng sớm hơn và có thể mua nhiều hơn bình thường.

Khan hiếm ảo - Thành công thật

Mùa hè năm nay, chúng ta được chứng kiến hai ví dụ xuất sắc về tác động của tình trạng khan hiếm ảo: Đó là sự kiện khai trương sản phẩm iPhone của Apple và tập bảy của bộ truyện Harry Potter. Trong cả hai trường hợp, sự công bố rầm rộ trước thời điểm ra mắt không chỉ kích thích nhu cầu mà còn tạo cho khách hàng sự lầm tưởng rằng việc cung cấp hàng sẽ bị giới hạn.

Thực tế, có rất ít trường hợp mà nhà sản xuất không đáp ứng đủ số lượng cho nhu cầu thị trường. Trường hợp nào người bán hàng cũng tính toán khá chuẩn được trước mức nhu cầu cần thiết của thị trường.

Hàng loạt bài báo đưa tin và vô số thông báo ngày ra mắt đã giúp cho chiến lược khan hiếm ảo trở nên thành công đối với Apple và công ty xuất bản truyện Potter.

Và hai sản phẩm này không chỉ thu lợi trong quá trình bán trực tiếp mà thủ thuật khan hiếm ảo này còn giúp thúc đẩy việc kinh doanh những thứ khác: Người ta vẫn xếp hàng tại các cửa hàng Apple và các cửa hàng sách để mua những sản phẩm có liên quan tới iPhone và truyện Harry Porter ngay cả trong những tháng kinh doanh không mấy thuận lợi.

Những rủi ro tiềm ẩn

Thế nhưng, cũng có những rủi ro tiềm ẩn khi sử dụng chiến lược khan hiếm giả.

Đầu tiên, chiến dịch quảng cáo đã thổi phồng tình trạng này , làm cho khách hàng càng soi xét sản phẩm kỹ lưỡng hơn: Những lỗi thông thường trong phiên bản đầu tiên của iPhone đã nhanh chóng dấy lên các bài phê bình và ngay lập tức bị phát tán bởi những trang blog.

Tiếp theo, một số người tiêu dùng nản lòng vì phải đứng xếp hàng chờ mua sản phẩm có thể từ bỏ hoặc chuyển sang mua các sản phẩm thay thế khác.

Tạo ra ảo tưởng khan hiếm khác hẳn với việc nhà cung cấp đánh giá thấp nhu cầu của thị trường đối với sản phẩm mới.

Một ví dụ điển hình về sai lầm này là vụ khan hiếm hàng nổi tiếng xảy ra năm 1998 của hãng xe hơi Volkswagen: Hãng này (VW) đã dự báo nhu cầu sản phẩm ít hơn so với nhu cầu thật của thị trường về sản phẩm xe hơi New Beetle khi ra mắt sản phẩm.

Tất nhiên, việc sản xuất thêm xe hơi vấp phải nhiều thách thức hơn so với việc in thêm sách. Nhưng sau sai lầm đầu tiên, VW đã tích cực thực hiện một số quyết định khôn ngoan để giảm nhẹ thiệt hại bằng nhiều cách.

Trước hết, công ty đền ơn những nhà kinh doanh giỏi nhất bằng cách tặng họ những chiếc xe New Beetles vốn rất khan hiếm để thể hiện sự ưu đãi cao nhất.

Thứ hai, các xưởng VW "liên tục sản xuất" những chiếc New Beetle với công suất tối đa và với nhiều chọn lựa hơn để tối đa hóa lợi nhuận tính trên đầu sản phẩm mà VW và của các đại lý bán xe có thể thu hút được .

Thứ ba, VW khuyến khích những đại lý xe hơi nhận bán thêm các mẫu xe hơi thông dụng khác nhiều hơn số lượng trước đây (ví dụ như Golfs và Jettas) như một sự đền đáp cho việc được nhận bán những chiếc New Beetle khan hiếm.

Người tiêu dùng kéo tới cửa hàng bán sản phẩm của VW để ngắm chiếc New Beetle thường kết thúc bằng việc mua những mẫu xe VW khác phù hợp hơn với nhu cầu thực tế của họ. Bằng cách này, sản phẩm khan hiếm thực hiện vai trò thu hút cho những sản phẩm khác có cùng nhãn hiệu.

Những ví dụ trên cho thấy: Tình trạng khan hiếm có thể là một cơ hội may mắn hoặc một tai họa.

Tạo nên ảo tưởng về sự khan hiếm có thể là một chiến lược tiếp thị khôn ngoan. Dù bạn có phải nhận những hậu quả không may từ thực tế tạo tình trạng khan hiếm, sẽ vẫn có những sách lược sửa chữa thích hợp để giảm thiểu tối đa thiệt hại về nhãn hiệu, thậm chí còn có thể thu được lợi nhuận từ sai lầm này.

Vậy, câu chuyện về tình trạng khan hiếm của bạn là gì? Công ty của bạn có bao giờ sử dụng phương pháp tình thế khan hiếm hay tạo thành công từ ảo tưởng khan hiếm để kích thích nhu cầu của thị trường?

< Theo Vietnamnet.vn >
Đọc thêm »

Thứ Bảy, 2 tháng 4, 2011

Phong thủy trong Marketing

phong thủy, marketingTheo từ điển Wikipedia, phong thủy là học thuyết nghiên cứu sự ảnh hưởng của hướng gió, hướng khí, mạch nước đến đời sống hạnh phúc của con người. Khái niệm phong thủy trước đây hầu như chỉ xuất hiện trong lĩnh vực kiến trúc, xây dựng, nhưng gần đây đã đi vào cả lĩnh vực marketing với những biến thể nhất định.
>>Có một công thức trong xây dựng thương hiệu?
Nhiều doanh nhân trước khi thành lập doanh nghiệp đã rất thận trọng khi xem tuổi của những người hợp tác với mình hay lựa chọn màu sắc cho thương hiệu, văn phòng…

Chẳng hạn người có mệnh Thủy tránh sử dụng các màu nóng như đỏ, cam, vàng để trang trí văn phòng và thiết kế thương hiệu; người tuổi Tý không cộng tác với những người tuổi Ngọ… Liệu có logic nào mang tính khoa học không hay đơn thuần đó chỉ là niềm tin của một số người mê tín?

Một số chuyên gia về xây dựng thương hiệu thì lại cho rằng: coi trọng yếu tố “phong thủy” trong xây dựng thương hiệu là cần thiết, nhưng cần quan niệm phong thủy trong marketing như là một môn khoa học thực sự, chứ không phải là mê tín dị đoan.

Yếu tố “phong thủy” trong xây dựng thương hiệu thường liên quan đến bốn khía cạnh của hệ thống nhận diện thương hiệu:

1. Logo

2. Màu sắc

3. Địa điểm giao dịch

4. Thông điệp truyền thông

1. Logo

Một logo được coi là “hợp phong thủy” nếu nó phù hợp với tính cách của thương hiệu và quan trọng hơn, được khách hàng chấp nhận. Đây là điểm khác biệt rất lớn với khái niệm phong thủy thông thường.

Sự phù hợp ở đây được hướng đến đối tượng là khách hàng mục tiêu của doanh nghiệp, chứ không phải là phù hợp với tuổi hay mệnh của người chủ doanh nghiệp. Thời gian vừa qua trên thị trường Việt Nam chứng kiến hàng loạt vụ thay đổi hệ thống nhận diện thương hiệu, chủ yếu của các doanh nghiệp trong nước như: Ngân hàng Đông Á, Mobifone, Vinaphone…

Nguyên nhân sâu xa của những đợt thay áo mới này cũng là để “hợp phong thủy”. Logo trước đây của Ngân hàng Đông Á được vẽ trên một hình vuông với nhiều góc cạnh rất nhọn - điều tối kỵ của các doanh nghiệp dịch vụ.

Bởi trong lĩnh vực này, trước khi quảng bá sản phẩm dịch vụ, doanh nghiệp cần phải tạo được lòng tin đối với người tiêu dùng. Sự an toàn, tin cậy là điều vô cùng cần thiết nhưng chính những góc cạnh của logo cũ tạo ra sự bất an, cảm giác gai gai cho người tiêu dùng. Vì thế, một cuộc “lột xác” cho Ngân hàng Đông Á là vô cùng cần thiết. Logo mới có hình tượng mặt trời phương Đông, là sự cách điệu của ba chữ A lồng vào nhau, tạo sự tin tưởng, vững chắc.



Ngược lại, những ngành nghề đòi hỏi sự sáng tạo, năng động với những bước phát triển đột phá như công nghệ thông tin, quảng cáo… thì lại có thể dùng những logo với nhiều góc cạnh để phù hợp với tính cách thương hiệu của doanh nghiệp.

2. Màu sắc



Việc lựa chọn màu sắc cho hệ thống nhận diện thương hiệu phải truyền tải thông điệp thích hợp tới các khách hàng. Tùy theo văn hóa, xứ sở và các ngành công nghiệp khác nhau mà màu sắc có những giá trị biểu đạt khác nhau.

Theo văn hóa của người Việt Nam, có thể chia các màu sắc ra thành hai gam màu cơ bản là: màu nóng (đỏ, cam, vàng, tía…) và màu lạnh (xanh da trời, trắng…).

Tông màu nóng là biểu tượng cho sự độc đáo, đem lại cảm giác ấm cúng cho người tiêu dùng. Trong khi đó, các gam màu lạnh lại tạo được sự an toàn, tin tưởng, nghiêm túc, sang trọng, lịch lãm…

Việc lựa chọn màu sắc được coi là “hợp phong thủy” nếu nó thực sự giúp khơi gợi trí nhớ của người tiêu dùng về tính chất và hình ảnh sản phẩm dễ dàng hơn. Không phải ngẫu nhiên mà các thương hiệu trong lĩnh vực fast-food lại thường chọn các màu nóng, như màu đỏ của KFC hay màu đỏ và vàng của Lotteria…

Lý do là các màu này tạo cảm giác ngon miệng và sự ấm cúng cho khách hàng.



Việc chọn tông màu không chỉ phụ thuộc quan điểm, mục tiêu phát triển của doanh nghiệp mà còn phụ thuộc vào các yếu tố bên ngoài như sở thích của khách hàng, màu sắc của đối thủ cạnh tranh.

Trở lại với ví dụ về KFC và Lotteria, vì đối tượng mục tiêu của các thương hiệu này chủ yếu là giới trẻ nên gam màu nóng cũng phù hợp với tính cách năng động, trẻ trung của người trẻ tuổi.

Thương hiệu Pepsi đã từng có một thời gian dài rơi vào khủng hoảng do lúng túng lựa chọn tông màu chủ đạo giữa đỏ và xanh. VàMàu đỏ tạo cảm giác ngon mệng và ấm cúng cho khách hàng



sự khác biệt chỉ thực sự được tạo ra khi thương hiệu này chính thức lựa chọn màu xanh nước biển, màu đối lập với đối thủ cạnh tranh truyền thống Coca-Cola.



Sự phối hợp giữa các gam màu cũng phải tuân theo những nguyên tắc nhất định, đảm bảo sự cân bằng âm dương. Việc kết hợp màu đen và đỏ trong logo của HSBC đã có tác dụng tương hỗ nhau, vừa tạo sự tin tưởng cho khách hàng (gam màu lạnh - màu đen), vừa khẳng định đẳng cấp và sự năng động của ngân hàng (gam màu nóng).



Tóm lại, việc lựa chọn màu sắc chủ đạo cho thương hiệu được coi là “hợp phong thủy” khi đảm bảo sự phù hợp với các yếu tố đối nội và đối ngoại của doanh nghiệp. Trong đó, các yếu tố quan trọng nhất là quan điểm phát triển của doanh nghiệp, đối tượng khách hàng mục tiêu và đối thủ cạnh tranh.

3. Địa điểm giao dịch



Là nơi tiếp xúc giữa doanh nghiệp và khách hàng. Vì vậy, khi chọn địa điểm để thương hiệu hiện diện cần có sự tính toán một cách khoa học.

Ngoài những yếu tố phong thủy truyền thống về ánh sáng, bố trí nội thất, cần quan tâm đến những yếu tố mới trong nghệ thuật phong thủy. Chẳng hạn cần hiểu rõ đối tượng khách hàng mục tiêu là ai, họ thường xuất hiện ở đâu và thích đến nơi nào, từ đó sẽ có nhiều lựa chọn về địa điểm giao dịch.

Hệ thống quán cà phê cao cấp Highlands thường được đặt ở tầng trệt các cao ốc hạng A bởi lý do đơn giản đây là nơi hiện diện của các doanh nghiệp lớn, đẳng cấp nên những người ra vào các tòa nhà hầu hết đều có thu nhập cao, đúng với phân khúc thị trường mà Highlands nhắm đến.



Tương tự như vậy, các tiệm ăn nhanh thường được đặt gần các trung tâm Anh ngữ hay trường quốc tế bởi đây là địa điểm của lứa tuổi teen - những khách hàng trung thành của KFC hay Lotteria.

Cũng chính từ những logic khoa học này, ở nước ta đã hình thành phố Wall Việt Nam - đường Nguyễn Công Trứ (TP.HCM) hay Láng Hạ (Hà Nội), nơi tụ tập hầu hết các công ty chứng khoán và ngân hàng lớn nhỏ; hay như đường Lê Văn Sỹ (TP.HCM) là chốn hiện diện của các thương hiệu thời trang bình dân trong khi đường Nguyễn Trãi (TP.HCM) lại là nơi xuất hiện của các thương hiệu thời trang cao cấp…

4. Thông điệp truyền thông



Là thành tố đầu tiên của quá trình thông tin đến người tiêu dùng qua các phương tiện truyền thông như quảng cáo trên tạp chí hay truyền hình, PR…

Một bức thông điệp của doanh nghiệp sẽ dễ đi vào tâm trí của người nghe nếu nó “hợp tai”. Các tiêu chí để đánh giá một slogan “hợp phong thủy” bao gồm: dễ nhớ, ngắn gọn và có điểm kết ấn tượng.

Đối với ngành dịch vụ, nơi cần tạo ra sự an toàn, tin cậy thì các slogan cần tránh sự trúc trắc và phải tận dụng tối đa các thanh bằng. Chính vì hiểu được nguyên tắc này, rất nhiều thông điệp của các ngân hàng trong thời gian qua đã đi vào tâm trí của người tiêu dùng: “Ngân hàng của mọi nhà” (ACB), “Người bạn đồng hành tin cậy” (Đông Á)…

Ngược lại, một số doanh nghiệp lại chọn thông điệp rất khó nhớ như: “Giá trị tích lũy niềm tin” bởi có quá nhiều thanh nặng. Trong tiếng Việt, số lượng từ của slogan thường ít khi vượt qua số chín - con số được coi là rất đẹp và đủ dài để lưu lại trong tâm trí người tiêu dùng.

Thông điệp ngắn gọn “Tận tình phục vụ” của bảo hiểm Bảo Minh đã tạo ra sự tin cậy, cảm giác an tâm và tin tưởng cho khách hàng.



Như vậy, cho dù là trên phương diện nào, yếu tố “phong thủy” trong marketing cần phải được hiểu đúng là yếu tố dành cho khách hàng, sự phù hợp phải tuân theo tiêu chí là với sở thích của phần lớn các khách hàng mục tiêu, chứ không phải là với “cái tôi” của người chủ doanh nghiệp.

Hiểu được điều này, các doanh nghiệp sẽ sớm thành công trên bước đường chinh phục khách hàng.

SAI LẦM THƯỜNG GẶP TRONG THIẾT KẾ HỆ THỐNG NHẬN DIỆN THƯƠNG HIỆU

Ôm đồm: Thông thường các doanh nghiệp thường cố gắng biểu hiện tất cả các ngành nghề đang kinh doanh trên logo. Công ty sản xuất về cơ khí thế nào cũng phải có bánh răng, búa, kìm…

Công ty bất động sản thì nhất định phải có hình tượng về cầu đường, nhà cửa… Điều này sẽ gây khó khăn cho chính doanh nghiệp khi mở rộng hoặc chuyển đổi ngành nghề kinh doanh.



Thích đao to búa lớn: Nhiều doanh nghiệp lựa chọn các biểu tượng kinh doanh quá to tát, đôi khi xa rời với hoạt động doanh nghiệp. Cứ công ty xuất nhập khẩu là phải có hình quả địa cầu, tàu biển, máy bay… để thể hiện giao lưu với quốc tế, trong khi mục đích phát triển của doanh nghiệp như thế nào, giá trị mà khách hàng thu được là gì thì không thể hiện được.



Tham lam: Khi thiết kế logo, doanh nghiệp Việt Nam thường sử dụng rất nhiều màu sắc, đường nét và đôi khi sự phối hợp hoàn toàn không mang tính hỗ trợ nhau, gây phản cảm cho khách hàng.



Lạm dụng yếu tố cá nhân:Điều này thường xảy ra với khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ. Người chủ doanh nghiệp có nhiều ảnh hưởng đến việc lựa chọn màu sắc cho hệ thống nhận diện thương hiệu, đôi khi đến mức phản khoa học. Về mặt tâm linh, có người cho rằng mình mạng Thổ (Đất) nên chọn màu sắc chủ đạo là màu vàng.

Nhưng xét về “phong thủy” trong marketing, đối tượng khách hàng mục tiêu hướng đến nếu là tuổi teen thì đây sẽ là một màu không phù hợp.

** Ý kiến của ông Nguyễn Trọng Tấn - Chuyên gia tư vấn thương hiệu Công ty Lantabrand:

Phong thủy trong marketing được hiểu là sự phù hợp của thương hiệu đối với thị trường và khách hàng mục tiêu. Sự phù hợp này tạp sự thoải mái và gẫn gũi với khách hàng khi mua và sử dụng thương hiệu đó và được thể hiện qua các yếu tố:

Sự phù hợp trong định vị thương hiệu: Khi một thương hiệu có một định vị tốt, khác biệt với đối thủ, phù hợp với thị trường mục tiêu có nghĩa rằng thương hiệu đó có định vị phù hợp với "phong thủy".



Sự phù hợp trong thiết kế logo và hệ thống nhận diện thương hiệu: một logo đơn giản, phù hợp với ngành nghề kinh doanh, màu sắc phù hợp với khách hàng và nội bộ doanh nghiệp được gọi là logo phù hợp với "phong thủy". Theo quan niệm Á Đông, mệnh và tuổi của người chủ thương hiệu cũng rất quan trọng với màu sắc và hình dáng của logo.

Sự phù hợp trong phân phối: mỗi doanh nghiệp có một đặc điểm phân phối riêng và người quản lý thương hiệu cần phải xác định được kênh phân phối và địa điểm phân phối phù hợp với thương hiệu của mình. Sự phù hợp trong kênh phân phối là phong thủy đối với doanh nghiệp.

< Theo Phongmarketing.com >
Đọc thêm »

Du lịch cùng thần tượng: Tại sao không?

- Một website thông minh, hấp dẫn, một "hot boy" có sức hút làm nhân vật đại diện cho du lịch. Đó là những chiến lược hiệu quả và rất thực tế để quảng bá du lịch quốc gia.
LTS: Sau khi phân tích tiềm năng du lịch và cách thức quảng bá giữa Việt Nam và Thái Lan, đề xuất định vị và các sản phẩm du lịch thuần Việt, Nhóm Marketing Trường ĐH Thăng Long tiếp tục có một bài viết về sử dụng các phương tiện truyền thông hiện đại để quảng bá du lịch Việt.
"Ảo" còn hay hơn thật
Với sức lan tỏa mạnh mẽ và chi phí thấp hơn nhiều so với marketing kiểu truyền thống, Internet chắc chắn là một kênh truyền thông hiệu quả để quảng bá du lịch ra thế giới.
Nắm bắt được xu thế này, nhiều quốc gia như Hàn Quốc, Singapore, Thái Lan... đã xây dựng các website du lịch sống động, đầy ắp thông tin, tiện ích và đa ngôn ngữ. Thậm chí, website của du lịch Thái có tới 34 ngôn ngữ khác nhau.
Tìm kiếm trên Google về du lịch Việt Nam cho khoảng hơn 2,5 triệu kết quả nhưng không có một trang web nào, kể cả trang của Tổng cục Du lịch đủ sức hấp dẫn.
Website của du lịch Việt cần thay đổi theo hướng hỗ trợ tối đa người dùng về hình ảnh và thông tin các gói sản phẩm và các điểm đến, được phân theo từng chủ đề như văn hóa, lịch sử, ẩm thực... Một điều đặc biệt hữu ích đối với du khách là hệ thống "Đường dây nóng" 24/24 nhằm đáp ứng mọi nhu cầu thắc mắc của khách hàng. Điều này sẽ giúp các du khách phần nào thỏa cơn khát thông tin và tò mò trong quá trình lựa chọn điểm đến.
Vì mỗi du khách có những nhu cầu khác nhau nên website du lịch Việt Nam phải đủ thông minh và đa dạng để có thể cung cấp thông tin cho người dùng dưới nhiều hình thức.
Chẳng hạn như các catalogue trực tuyến cho phép tra cứu thông tin và thể tải các gói hình ảnh này về để sử dụng như wallpaper và themes trên máy tính hoặc điện thoại. Những bức ảnh này được xếp thành các chủ đề như du lịch biển, du lịch văn hóa, du lịch lịch sử hay theo các mùa trong năm như Xuân, Hạ, Thu, Đông, lễ Tết. Đồng thời, nên có ứng dụng "Việt Nam - Lộ trình của bạn" cho phép người dùng xây dựng một lộ trình riêng với đầy đủ thông tin như điểm đến, hoạt động vui chơi giải trí, nơi ở lý tưởng, chi phí dự kiến...


Hà Nội qua ảnh panorama
Hà Nội qua ảnh panorama. Nguồn: http://hanoi.panorama.vn/1.000/
Nếu như những tấm hình không làm thỏa cơn khát tìm kiếm và tò mò của những người yêu khám phá, thì công nghệ Panorama sẽ là sự lựa chọn tuyệt vời không chỉ cho những người yêu du lịch mà còn dành cho những người yêu công nghệ. Đây là một trong những công nghệ chụp hình góc rộng mới, hiện đại nhất trên thế giới, cho phép người xem quan sát nội dung chụp rộng hơn mắt thường quan sát. Ứng dụng công nghệ Panorama vào du lịch để tạo nên những bức ảnh xoay 360 độ với  độ phân giải cao có thể zoom vào từng chi tiết của điểm du lịch, từ đó giúp khách du lịch có cái nhìn rõ hơn về điểm đến và có những giây phút thú vị bên cạnh công nghệ mới này.
Đối với mỗi tỉnh thành trên cả nước, chúng tôi sẽ chọn ra 10 địa điểm du lịch trọng điểm để thử nghiệm sử dụng công nghệ Panorama để quảng bá và giới thiệu trên website Du lịch Việt Nam. Trong tương lai, có thể áp dụng công nghệ này phổ biến hơn và thay đổi hình ảnh theo các giai đoạn quảng bá du lịch Việt Nam.
Để đáp ứng nhu cầu thông tin cập nhật của nhóm khách hàng trẻ, hệ thống mạng xã hội như Facebook, Twitter, YouTube, Flickr... như một kênh quảng bá mang tính cập nhật thông tin đa chiều cao. Một mặt, các mạng xã hội giúp cập nhật những thông tin mới nhất về du lịch Việt Nam như clip, hình ảnh, chương trình sự kiện cho du khách bốn phương.
Mặt khác, đây cũng sẽ là kênh để du khách có thể giao lưu, bày tỏ quan điểm, chia sẻ  những kinh nghiệm cũng như thắc mắc cần giải đáp về du lịch Việt Nam. Thông qua kênh mạng xã hội này, những người làm du lịch Việt Nam có thể có được những thông tin phản hồi của du khách trên khắp thế giới để kịp thời nắm bắt tình hình, xu thế, mong muốn của họ trong việc đi du lịch.
Du lịch cùng thần tượng
Năm 2009, khi ngành công nghiệp không khói bị sụt giảm thảm hại do ảnh hưởng suy thoái kinh tế toàn cầu và những bất ổn chính  trị trong nước, Tổng cục Du lịch Thái Lan đã có một nước cờ rất khôn ngoan khi chọn "hot boy" Nichkhun, ca sỹ 21 tuổi của ban nhạc đình đám 2PM của Hàn Quốc, làm gương mặt đại diện cho du lịch nước mình.
Sinh ra ở Mỹ trong một gia đình người Thái, đã từng học phổ thông ở Thái, có thể nói tiếng Anh, tiếng Thái, tiếng Hàn Quốc và đang học tiếng Trung Quốc, trẻ trung, quyến rũ và nổi tiếng khắp châu Á, Nichkhun xứng đáng là con át chủ bài trong chiến dịch thu hút khách du lịch trẻ tới Thái Lan trong những kỳ nghỉ ngắn ngày vui vẻ.
ca sĩ, người nổi tiếng,thái lan
Ca sĩ, nghệ sĩ nổi tiếng góp phần quan trọng quảng bá hình ảnh đất nước.
Với khẩu hiệu "Đến Thái thôi! Tạm nghỉ nào!" (Come to Thailand; Let's take a break), chàng ca sỹ thần tượng này đã xuất hiện trong những video quảng bá với hình ảnh Nichkhun chơi golf, ăn tôm hùm, tập boxing Thái hay té nước trong lễ hội truyền thống.
Kết quả thật khả quan khi du lịch Thái đang dần hồi phục trong năm 2010, một phần nhờ hình ảnh trẻ trung, cuốn hút của một trong những ca sỹ đang nổi nhất ở châu Á.
Cùng chung ý tưởng sử dụng thần tượng, Hàn Quốc lại sản xuất bộ phim "Một ngày không thể quên ở Hàn Quốc" với dàn sao cực "khủng". Không có nội dung gì đặc biệt, bộ phim chỉ "khoe" những cảnh đẹp hút hồn và các món ăn hấp dẫn của xứ sở kim chi.
Đó là những "chiêu" mà Việt Nam hoàn toàn có thể học hỏi và áp dụng trong chiến lược quảng bá du lịch. Chẳng hạn như với gương mặt đại diện, tiêu chí chọn lựa nên là những người nổi tiếng, có tầm ảnh hưởng lớn trên thế giới, đặc biệt ở các thị trường mục tiêu chính. Người đại diện thực hiện các clip quảng cáo, thực hiện các photobook cho du lịch Việt Nam, đồng thời cũng là phát ngôn viên cho Du lịch Việt Nam trong các cuộc triển lãm, hội chợ quốc tế. Hình ảnh đại diện cho du lịch Việt Nam sẽ được tổ chức sinh nhật (hoặc các dịp kỷ niệm) hàng năm cùng bạn bè và người thân tại một điểm đến bất kỳ tại Việt Nam, và được sử dụng miễn phí những sản phẩm thế mạnh của Việt Nam như sản phẩm thủ công mỹ nghệ, nông sản...
Ngược lại, Việt Nam có quyền sử dụng hình ảnh của đại diện trong tất cả các ấn phẩm quảng bá du lịch Việt Nam trong thời gian hợp đồng. Mỗi sự kiện hình ảnh đại diện tham gia, Việt Nam có quyền gắn poster quảng bá du lịch Việt Nam ở đó. Trong mỗi giai đoạn quảng bá khác nhau, Việt Nam có thể thuê các hình ảnh đại diện khác nhau sao cho phù hợp với hình ảnh định vị cho du lịch nước nhà.
Trong vòng 9 năm, có thể thực hiện 5 bộ phim về du lịch tương ứng với các giai đoạn định vị như MICE, du lịch khám phá và du lịch văn hóa. Các bộ phim này sẽ được đưa lên YouTube, Facebook, Twitter của du lịch Việt Nam và sẽ được chiếu và phát DVD miễn phí tại các sân bay quốc tế, để mỗi người nước ngoài, mỗi người con Việt đều có thể trở thành đại sứ thiện chí về du lịch tại nước ngoài.
< Theo vef.vn -Tác giả: nhóm marketing ĐH Thăng Long >
Đọc thêm »

Thứ Sáu, 1 tháng 4, 2011

Trọng tài sử dụng đồng hồ hình bao cao su Durex

Một hình thức quảng cáo cho loại bao cao su giúp kéo dài thời gian quan hệ đang gây sốc trên sân cỏ Thái Lan.


bao cao su durex performa,thái lan,trọng tài,bóng đá
Trọng tài và chiếc đồng hồ lạ.
Khi vị trọng tài bàn giơ đồng hồ điện tử thông báo thời gian đá bù giờ trong một trận đấu ở giải vô địch quốc gia Thái Lan, nhiều người có mặt đã cảm thấy bất ngờ.

Chiếc đồng hồ không như những gì họ thường thấy, mà được thiết kế giống một chiếc vỏ bao cao su của hãng nổi tiếng Durex.

Đây thực chất là một hình thức quảng cáo độc đáo của hãng McCann Erickson ở Bangkok (Thái Lan), cho sản phẩm mới của Durex - Durex Performa.

Đây là loại bao cao su giúp nam giới kéo dài thời gian quan hệ, và nó được liên tưởng đến chuyện bù giờ trong bóng đá.
< Theo VnExpress.net >
Đọc thêm »