ADS 468x60

Hãy sống như hôm nay là ngày cuối cùng.

và Luôn nhớ rằng tất cả chỉ là bắt đầu...

Thứ Ba, 9 tháng 8, 2011

BBC- Thương hiệu truyền thông hàng đầu.


logo BBC
Hãng BBC là thương hiệu truyền thông nổi tiếng nhất thế giới chuyên cung cấp tin tức, giáo dục và giải trí cho Vương Quốc Anh. Đài BBC kỹ thuật số ngày nay đóng vai trò chủ chốt trong đời sống ở Anh và hướng tới mục tiêu là một cơ quan sáng tạo, đáng tin cậy nhất trên thế giới cũng như làm phong phú thêm cuộc sống của con người với nhiều chương trình và dịch vụ bổ ích. Người ta có thể xem, nghe hay truy cập nội dung của đài BBC thông qua 8 kênh truyền hình quốc gia, 10 trạm phát thanh quốc gia, 240 trang web và 40 trạm phát thanh địa phương.







THỊ TRƯỜNG
Thị trường truyền thông của Anh đang được thay đổi bằng kỹ thuật số; và cho đến năm 2012, cả nước Anh sẽ được bắt sóng truyền hình số. Đã có 75% hay gần 19 triệu hộ gia đình có TV đa kênh kỹ thuật số và dịch vụ radio từ Sky, Birgin Media và Freeview. Hiện tại khoảng 11 triệu gia đình và các doanh nghiệp nhỏ đã có kết nối băng thông rộng.

Những cơ quan truyền thông công cộng trước đây như BBC, ITV, Channel Four và Five giờ đều là những thương hiệu đa hệ, đa phương tiện phát sóng 24/24 cả 7 ngày trong tuần trên mạng Internet. Những người xem kênh kỹ thuật số chiếm trên 30% nhưng với các kênh kỹ thuật số mới của các hãng này giúp tăng số lượng người xem lên đáng kể.

Sự ra đời của những TV màn hình phẳng có thể thu lại chương trình và có độ sắc nét cao đang thu hút nhiều người tiêu dùng cũng như các dịch vụ khác như “bảy ngày xem đi xem lại”. Một loại hình mới của các hãng kênh, trong đó có BT, là dịch vụ truyền hình di động xoáy vào công nghệ 3G đang ngày càng phát triển. Thị trường phát thanh và truyền hình trên toàn nước Anh được ước tính trị giá trên dưới 12 tỷ £.

THÀNH TỰU

Trong năm 2006-2007, hãng BBC nhận được 235 giải thưởng cho các chương trình truyền hình, radio và phương tiện truyền thông mới. Những giải thường này gồm có 32 giải Bafta (cho Truyền hình, Thiếu nhi và Nghệ thuật), 52 giải RTS (cho chương trình truyền hình, Phóng sự, Thể thao, Giáo dục, North West, Nghệ thuật và Thiết kế), 18 giải Sony Gold cho Radio, 4 giải Webby cho dịch vụ trực tuyền cũng như 3 giải International Emmy cho truyền hình.
BBC- Thương hiệu truyền thông hàng đầu.

Hãng BBC còn nhận trách nhiệm về hợp tác bảo vệ môi trường và nỗ lực làm việc để giành quyền lấy thuế truyền thông (licence fee) qua các mối làm ăn phi thương mại trong việc cải thiện môi trường và giảm thiểu tác động xấu đối với các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Những người lập ra “Bảng tiêu chuẩn trách nhiệm hợp tác cộng đồng năm 2007” (Community Corporate Responsibility Index 2007) đã trao giải Bạch Kim cho BBC vì đã kiểm soát được những tác động đến môi trường và xã hội.

SẢN PHẨM

Hãng BBC được biết đến trước hết như một hãng sản xuất nhiều nội dung và chương trình chất lượng cao trên radio, TV hay Internet. Sản phẩm của hãng là một phức hợp với 21 thương hiệu truyền thông công cộng chính trên sóng truyền hình, truyền thanh và trực tuyến, hoàn thành lời hứa cung cấp một cái gì đó có chất lượng cho mọi người.

Những thương hiệu truyền hình – truyền thanh của BBC ngày nay, đặc biệt là BBC One, BBC Two cùng Radio 1, 2, 3, 4 và Five Live vô cùng nổi tiếng, thu hút một số lượng khán thính giả khổng lồ. Những kênh chính của hãng còn được hỗ trợ bởi những thương hiệu số mới như BBC Three và BBC Four trên truyền hình, BBC Radio Xtra, BBC Five Live Sports Extra, BBC 6 Music, BBC 7 và Asian Network trên sóng radio số. Trang web bbc.co.uk cũng là một thương hiệu hàng đầu được công nhận ở Vương Quốc Anh.

Các kênh Nations and Regions của BBC dành cho nước Anh, xứ Wales, Bắc Ailen và Scotland cũng sản xuất được nhiều chương trình, đặc biệt là tin tức dành cho những khán giả quan trọng. BBC cũng mở nhiều dàn đồng ca – hợp xướng nhằm phát triển tài năng trẻ và đóng góp các kĩ năng đào tạo và sản xuất cho ngành truyền thông, âm nhạc, kịch nghệ và phim ảnh của Anh.

Tài chính của BBC dựa vào thuế truyền thông do tất cả các hộ gia đình có TV trả. Điều này có nghĩa là hãng không phải thu lời từ quảng cáo hay những người mua cổ phần và có thể tập trung vào việc cung cấp những chương trình, dịch vụ chất lượng cao cho mọi người, nói cách khác nhiều chương trình trong số đó sẽ không cần tài trợ bởi tiền đóng góp hay quảng cáo nữa.

NHỮNG PHÁT TRIỂN GẦN ĐÂY

Cuối năm 2006, BBC nhận Hiến chương 10 năm của hoàng gia, trong đó ghi rõ những gì mà người trả thuế truyền thông mong chờ ở một thế giới hoàn toàn kỹ thuật số và on-demand (tải ngay). Điều đó đã chứng minh cho những mục đích công cộng của BBC, khẳng định một vai trò duy nhất của hãng truyền thông Anh trong cả thập niên tiếp theo. BBC Trust mới, một cơ quan đặt ra những mục tiêu cho BBC giúp bảo vệ hãng trước những áp lực chính trị - thương mại cũng như báo cáo hoạt động của hãng trong bài báo cáo hàng năm đến quốc hội và những người trả thuế truyền thông, được thành lập để giám sát mọi hoạt động của BBC.

Cuộc cách mạng kỹ thuật số đang biến BBC từ một phòng thu đơn thuần chỉ dựa vào những chương trình phát sóng thành một “khán giả” chú trọng vào nội dung thương hiệu bất kỳ lúc nào, bất kể nơi đâu và như thế nào. BBC đang có kế hoạch khai trương Freesat – một dịch vụxem tự do qua vệ tinh trên toàn quốc với ITV – cung cấp đến 200 kênh gồm nhiều chương trình phát sóng rõ nét. iPlayer, dịch vụ tiếp sóng Internet liên tục trong 7 ngày, sẽ hoàn thành vào cuối năm 2007. Dịch vụ “nghe lại” và podcast của Đài phát thanh BBC cũng đã thu hút được hàng triệu người thường xuyên lên mạng.
BBC- Thương hiệu truyền thông hàng đầu.

Hãng BBC được khuyến khích tăng nguồn thu bổ sung từ việc khai thác các chương trình do chính phủ tài trợ. BBC Worldwide bán chương trình và thời lượng phát sóng, đồng thời đó cũng là hãng truyền thông quốc tế số một nước Anh với 18 kênh, trong đó có BBC Mỹ. Ngoài ra, Worldwide còn phát hành sách, DVD và những mặt hàng khác liên quan đến nội dung chương trình và là cổ đông của UKTV. Các hoạt động thương mại được mở rộng và lợi nhuận thu được sẽ dùng để tái đầu tư cho dịch vụ truyền thông.

KHUYẾN THỊ

Những chữ cái trong tên BBC của thương hiệu rất dễ nhận ra và dễ hiểu khi có mặt trong những chương trình và dịch vụ có chất lượng. Nó thường xuất hiện trên mọi thứ từ các kênh truyền hình cho đến các tạp chí thương mại và văn học cũng như trên các tòa cao ốc, cờ, xe cộ, các sự kiện âm nhạc hay sự kiện lớn khác, sách báo, DVD và Internet toàn cầu.

Logo chính hiện nay của thương hiệu đã được thiết kế lại vào cuối những năm 90 để trông đơn giản hơn và bớt lộn xộn. Những bản sắc thương hiệu phụ của các kênh và dịch vụ thường xuyên được làm mới và nghiên cứu lại để phù hợp với những thay đổi của thị trường và công tác nghiên cứu khách hàng. BBC One và BBC Two đều ra mắt những giao diện mới trong năm nay, như vậy chúng sẽ gần gũi với khán thính giả hơn.

Các dịch vụ tiếp thị, thông tin liên lạc và nghiên cứu khách hàng của BBC nhằm mục đích mở ra nhiều chiến dịch liên lạc chung được hỗ trợ bởi các hãng hàng không, áp phích, báo chí và các sự kiện trực tiếp. Radio Times cũng đóng góp nhiều khuyến thị vô giá cho các chương trình của BBC. 

GIÁ TRỊ THƯƠNG HIỆU

Mục đích đưa tin, giáo dục và giải trí của cơ quan truyền thông công cộng BBC được ghi nhớ như là những giá trị cốt lõi của hãng. BBC luôn luôn chú trọng đến nhận xét của khán thính giả. Và họ phát biểu rằng: trong thời đại của kỹ thuật số, với tư cách là một hãng truyền thông BBC phải được lòng tin, được hoan nghênh, được chuẩn bị để đối đầu với những thử thách và phát triển, được nói mọi điều và kết nối mọi người. Về mặt chính trị, BBC độc lập về hiến pháp và không thiên vị trong bất kỳ bài báo hay nội dung nào.


NHỮNG ĐIỀU CÓ THỂ BẠN CHƯA BIẾT VỀ BBC

  • BBC là hãng thông tấn hàng đầu thế giới với 233 triệu người trên toàn thế giới sử dụng kênh truyền hình, radio và các dịch vụ trực tuyến mỗi tuần.
  • Tính đến nay đã có hơn 15000 buổi phát sóng của seri chương trình phát thanh The Archers.
  • Hãng BBC được chính thức thành lập năm 1922 bởi các nhà sản xuất thiết bị vô tuyến với mục đích tăng doanh thu của đài radio.
  • Chương trình Blue Peter bắt đầu năm 1958 và là chương trình thiếu nhi tồn tại lâu nhất thế giới.
  • Thập niên 60: TV phát triển từ trắng đen sang màu. Đài phát thanh khai trương một loại kênh phát thanh mới gồm Radio One và tiếp theo là Two, Three và Four.
  • Thập niên 70: Thời kỳ “được mùa” của kịch truyền hình như: I Claudius, Pennies from Heaven, và Last of the Summer Wine.Hài kịch mới gồm có: Are You Being Served? , The Good Life, và Fawlty Towers. Phim tài liệu bao gồm: The Ascent of Man và The Family.
  • Thập niên 80: Năm 1985 ở Ethiopia, phóng viên Michael Buerk đã báo động cho thế giới về một nạn đói có trong những trang Kinh Thánh. Điều này đã mở ra buổi hòa nhạc Live Aid và gây quỹ được hơn 60 triệu £.
  • Cũng trong thập niên 80, hãng BBC đã bênh vực cho cuộc chiến Falklands và cuộc đình công của những người thợ mỏ, cũng như ra mắt bộ phim Eastenders.
  • Thập niên 90: BBC Radio 5, hệ thống phát thanh mới trong 23 năm qua, được thành lập năm 1990. Những vở hài kịch mới gồm có I Got News for You. Kịch cổ trang có Middlemarch và Pride and Prejudice. Các chương trình đột phá có The Human Body và Walking with Dinosaurs.
  • Những năm 2000: Những chương trình truyền hình tạo bước ngoặt gồm có: Blue Planet, Planet Earth, và Simon Schama’s A History of Britain. Hài kịch có: The Office, Little Britain và The Royle Family.

< Theo  Superbrand - dịch bởi  LANTABRAND >
Đọc thêm »

Thứ Ba, 26 tháng 7, 2011

9 loại hình để khởi nghiệp kinh doanh trên mạng

 thương mại điện tử, kinh doanh trên mạng

Mặc dù thời kỳ bùng nổ của các công ty dotcom đã qua, nhưng cơ hội kiếm tiền trên Web vẫn còn rất lớn. Vấn đề là bạn phải biết tìm cơ hội đó ở đâu. Sau đây là gợi ý về 9 lĩnh vực kinh doanh khả thi mà bạn có thể bắt đầu ngay từ hôm nay, được đúc rút từ kinh nghiệm của các công ty hoạt động trong lĩnh vực TMĐT thành công trên thế giới.

1. Nhận giao hàng
Có lẽ bạn không bao giờ nghĩ rằng mình sẽ tạo dựng cơ nghiệp bằng cách chạy quanh thành phố và giao các món hàng cho mọi người. Thế nhưng nhiều người đã thu được hàng triệu USD từ dịch vụ này.
Ross Stevens, người sáng lập và giám đốc điều hành công ty Urbanfetch Inc., cho biết: "Mọi người thường không thích chờ đợi lâu sau khi đặt mua hàng hoá trên mạng. Chính vì thế, chúng tôi thấy đây là cơ hội lớn để cung cấp một dịch vụ mà khách hàng có thể nhận mọi thứ trong cùng ngày đặt hàng, thậm chí là trong cùng giờ đặt hàng".
Hiện nay, công ty có trụ sở tại New York này đang cung cấp dịch vụ giao hàng miễn phí trong vòng một giờ đối với nhiều loại hàng hoá, từ đồ tiêu dùng lặt vặt cho đến đồ điện tử, phạm vi là trong khắp thành phố New York. Dịch vụ này đã đánh trúng nhu cầu của những cư dân bận rộn của New York. Doanh số ngay trong năm đầu tiên của công ty vào khoảng 30 triệu USD.
Urbanfetch xác định rõ mục tiêu của mình là bán hàng qua mạng. Công ty tích trữ hàng tại các khu vực chi phí thấp trong thành phố, nhờ đó họ tiết kiệm được chi phí thuê cửa hàng tại các khu phố sang trọng.
Theo đánh giá về tốc độ tăng trưởng của dịch vụ giao hàng tại nhà, lĩnh vực này đang có rất nhiều cơ hội cho những người mới khởi nghiệp. Chuyên gia Christopher Kelley của Forrester Research cho rằng những người mới khởi nghiệp nên chú trọng đến việc đóng gói và giao hàng từ một trung tâm thư tín địa phương đến nhà của khách hàng, hoặc thiết lập các mối quan hệ và nhận giao hàng cho các nhà kinh doanh địa phương.
2. Bán đồ thể thao
Nghiên cứu của Jupiter Communications cho rằng lĩnh vực thể thao trên mạng có thể là một trong những phân đoạn mới quan trọng nhất của thị trường tiêu dùng trên Web. Hiện nay, khách hàng trên mạng xếp hạng thể thao là một trong 5 nội dung ưa thích nhất của họ trên mạng và điều này có thể trở thành cơ hội lớn cho TMĐT.
Nếu muốn thành công trong lĩnh vực thể thao, có một mảng mà bạn nên chú ý đến là trang phục, dụng cụ thể thao dành cho phụ nữ. Bạn có thể tham khảo Lucy.com, một Website rất thành công nhờ cung cấp đồ thể thao cho giới nữ và và hiện đang dẫn đầu thị trường này.
3. Tư vấn qua mạng
Nếu bạn có một nền tảng vững về tư vấn bạn có thể sử dụng các kỹ năng tư vấn của mình để kiếm tiền qua Web. Tư vấn qua mạng là cung cấp lời khuyên cho khách hàng thông qua Internet, thay vì các nhân viên tư vấn trực diện.
Theo nhận xét của IDC, tư vấn qua mạng là một thách thức lớn đối với các hãng tư vấn truyền thống, do mô hình này rất thích hợp với thị trường biến đổi liên tục trên Internet. Hiện nay, một số ít công ty lớn đã bắt đầu bước vào lĩnh vực này. Tuy nhiên những công ty này, như Ernst & Young và IBM, nhằm vào các đối tượng khách hàng là doanh nghiệp và những tổ chức kinh doanh lớn khác, bỏ qua thị phần các doanh nghiệp nhỏ cho những nhà tư vấn mới khởi nghiệp.
"Một nhà tư vấn đã làm việc nhiều năm cho một công ty lớn có thể tiến hành mở dịch vụ tư vấn qua mạng, đặc biệt là nhằm vào đối tượng kinh doanh vừa và nhỏ", Sophie Mayo, Giám đốc chương trình của IDC nói. Tuy nhiên, những công ty mới nên thiết lập thêm phần giao tiếp trực diện để xây dựng mối quan hệ liên tục với khách hàng.
4. Đấu giá trên mạng
Tại sao bạn không tham gia vào thị trường đấu giá đang sôi động trên mạng? Có 3 từ quan trọng nhất là: quan sát, quan sát và quan sát.
Sue Rothberg, nhà phân tích đấu giá cấp cao của Gomez.com cho biết: "Mô hình kinh doanh chi phí thấp nhất cho những người mới khởi nghiệp là kết nối với những đại gia như eBay, Yahoo! hay Amazon. Nên tìm cách gắn hoạt động của mình trên những website đông người truy cập này, điều đó sẽ cho phép bạn xây dựng một thương hiệu và một cơ sở khách hàng mà không cần thực hiện marketing nhiều".
Doanh nhân Richard Birnbaum, 43 tuổi, chủ sở hữu một công ty bán buôn trang phục, có khá nhiều kinh nghiệm về lĩnh vực này. Ông đã tăng gấp đôi doanh số bán hàng kể từ khi đưa danh mục hàng trong website chuyên kinh doanh trang phục của mình Wearamerica.com lên trang eBay. Ông tiết lộ: "Không ở đâu quảng cáo rẻ như eBay".
Ông Birnbaum khuyên, các doanh nghiệp đang dự định tham gia vào lĩnh vực đấu giá nên yêu cầu cam kết đặt tiền trong vài giờ, đồng thời nên dự trữ một danh mục hàng cố định liên tục trong 3 đến 4 tháng để thu hút khoản doanh số ổn định. Đây cũng là một nguyên tắc khi làm việc với dịch vụ quản lý đấu giá.
5. Thanh toán điện tử
Khi giao hàng tại nhà là một ưu điểm lớn của TMĐT, nhưng để thực hiện được điều này cần phải các dịch vụ trên Web cho phép khách hàng nhận và thanh toán phí qua mạng. Dịch vụ thanh toán điện tử cung cấp khả năng lập hóa đơn, giao hàng và thanh toán hoàn toàn thông qua Net.
CyberBills, một công ty cung cấp dịch vụ thanh toán qua mạng, đã phát triển một mô hình kinh doanh kết hợp giữa website bán hàng tiêu dùng của mình StatusFactory.com và một dịch vụ B2B được cung cấp cho các cổng, các ngân hàng, trung tâm giao dịch chứng khoán và các công ty muốn có dịch vụ thanh toán điện tử mang thương hiệu riêng. Giám đốc Điều hành John Simpson đã quyết định thực hiện các dịch vụ gia tăng này để nâng cao doanh số thay vì chỉ bán hàng tiêu dùng, bởi vì phần lớn người tiêu dùng cảm thấy tiện lợi hơn khi xử lý các vấn đề tài chính thông qua các tổ chức đã được tín nhiệm. Các công ty mà CyberBill đang bán lại dịch vụ gồm có Intuit và AOL.
Simpson cho rằng dịch vụ thanh toán qua mạng có thể khó thâm nhập và thành công trong giai đoạn này của Internet, bởi vì nhiều công ty đi trước đã thiết lập quan hệ chặt chẽ với các tổ chức lớn hơn. Ông gợi ý rằng người mới khởi nghiệp nên đóng vai trò là người bán lại dịch vụ thanh toán sẵn có trên website của mình, trước hết là để giữ khách hàng trở lại với website.
6. Trung tâm chăm sóc sức khoẻ
Dịch vụ chăm sóc sức khoẻ qua mạng đang phát triển rất nhanh và có thể sẽ bùng nổ trong vài năm tới. Jupiter Communications dự tính doanh số của ngành chăm sóc sức khoẻ qua mạng năm 2004 đạt 11 tỷ USD.
Một nghiên cứu khác của Jupiter cho thấy 49% người được phỏng vấn không mua thuốc qua mạng vì họ có thể dễ dàng mua thuốc tại các cửa hàng gần nhà khi đi mua sắm lặt vặt. Điều này giải thích tại sao các website cung cấp các sản phẩm truyền thống gặp nhiều khó khăn.
Có một giải pháp dành người khởi nghiệp: cung cấp các món hàng chăm sóc sức khoẻ thật đặc biệt, khó tìm thấy trong các cửa hàng thuốc thông thường. Trang Selfcare.com là một ví dụ tiêu biểu trong việc thu hút các khách hàng có nhu cầu đặc biệt về chăm sóc sức khoẻ. Trang web này cung cấp cả các sản phẩm truyền thống, sản phẩm thay thế và sản phẩm đặc biệt cho người bị dị ứng thuốc, điều chỉnh cân nặng hay các chứng đau kinh niên. Bất cứ ai cũng có thể đến hiệu thuốc và mua aspirin nhưng đâu phải dễ tìm mua các loại thảo dược đặc biệt hay mặt nạ làm đẹp từ tính chẳng hạn.
7. Web Hosting
Không cần phân tích nhiều, ai cũng có thể thấy triển vọng của dịch vụ Web hosting. Nhưng liệu đây có phải là cơ hội tốt với những người mới bắt đầu?
Theo ông Jeanne Schaaf, nhà phân tích cao cấp của Forrester, "Lĩnh vực này không dành cho những người không biết gì về Web hosting, cấu trúc Web, mạng và máy chủ Web. Đây là một loại kinh doanh kỹ thuật cao và đòi hỏi trình độ chuyên môn cao". Nói cách khác, trái với quan điểm thông thường, lĩnh vực này không đơn giản chỉ là đặt hàng loạt máy chủ vào một căn phòng để làm chỗ "trú ngụ" cho các trang web.
Don Fredrickson, Giám đốc Điều hành "got.net" (một công ty cung cấp dịch vụ Internet), cho biết ông dự định tăng cường dịch vụ Web hosting từ mức 15% hoạt động kinh doanh của công ty lên 70% trong 4 năm tới. Fredrickson cho biết, trong khi nhiều khách hàng là các doanh nghiệp, tổ chức lớn đang tập trung vào các trung tâm dữ liệu với mức chi phí từ 5.000 đến 10.000 USD/tháng cho dịch vụ hosting, thì nhiều doanh nghiệp nhỏ hơn đang rất cần các nhà cung cấp giá rẻ nhưng vẫn đảm bảo tin cậy. Chẳng hạn, giá dịch vụ hosting cơ bản của got.net là 20 USD/tháng và giá duy trì, quản trị một máy chủ đặt tại trung tâm của got.net là 300 USD/tháng.
Ông Fredrickson cho biết thêm, các doanh nghiệp sẽ đặc biệt thành công nếu họ có một lĩnh vực chuyên môn riêng. Với danh tiếng trong lĩnh vực chuyên môn đó, các khách hàng Web hosting sẽ tìm đến với họ.
8. Cổng mua sắm
Các cổng mua sắm trên mạng không chỉ có lợi nhuận từ việc bán hàng hoá mà còn có khả năng thu hút được rất nhiều quảng cáo và các doanh thu phụ trợ. Một trung tâm mua sắm trên mạng là một website cung cấp danh mục các đường dẫn đến rất nhiều dịch vụ và cửa hàng trên mạng. Các cổng lớn như Yahoo, AOL... chiếm khoảng 40% thị phần, phần còn lại về cơ bản là thị phần dành cho các nhà kinh doanh có cách nghĩ táo bạo và khác biệt, tập trung vào những thị trường khe.
Với những người mới bắt đầu, thông điệp quan trọng nhất là "cách nghĩ táo bạo". Một lĩnh vực đầy hứa hẹn trên mạng là cung cấp văn phòng cho các doanh nghiệp nhỏ. Những trang như Works.com và BizBuyer.com tập hợp những người mới khởi nghiệp cùng nhau để xây dựng giải pháp cho những hoạt động mua sắm quy mô nhỏ. Điều này tạo điều kiện cho họ có thể sử dụng các dịch vụ chi phí thấp của nhau, thay vì phải sử dụng dịch vụ của các công ty lớn hơn. Những công ty này cũng thực hiện việc tự động hoạt động mua sắm của các doanh nghiệp nhỏ.
Đối với các doanh nghiệp, loại hình kinh doanh này thích hợp vì hai lý do: đây là thị trường rất tiềm năng và vì là doanh nghiệp nhỏ nên bạn luôn biết rõ khách hàng của mình.
9. Tìm đúng "thị trường khe"
Với những thị trường phổ biến đã có nhiều tên tuổi lớn chiếm lĩnh, người mới khởi nghiệp thường khó có thể thâm nhập và tồn tại, vì vậy bạn nên tìm riêng cho mình một thị trường đặc biệt và cung cấp cho khách hàng điều gì đó khác biệt. Textbookhound.com là một ví dụ tiêu biểu trong việc tìm đúng thị trường khe. Công ty này cung cấp dịch vụ so sánh giá cả các loại sách giáo khoa dành cho giới học sinh, sinh viên. Không như dịch vụ tìm kiếm mua sắm khác, công cụ tìm kiếm của Textbookhound.com cho phép sinh viên gõ và tìm nhiều loại sách khác nhau cùng lúc. Người sáng lập công ty Philip Kaskawits và đồng sự của mình đã lập kế hoạch phối hợp với các nhà trường để cho phép các giáo sư liệt kê lịch trình các môn học, bài giảng của họ trên website, để giúp sinh viên tìm kiếm sách dễ dàng hơn.
Tuy nhiên, phần lớn doanh số của Textbookhound.com là từ các hoạt động liên kết: Amazon hay Barnes & Noble sẽ trả cho công ty một khoản phần trăm doanh số bán sách trên trang của họ. Không như các website tư vấn mua sắm khác, Textbookhound.com không liệt kê các cửa hàng theo thứ tự phụ thuộc số tiền mà họ trả cho công ty mà là theo giá thấp nhất mà họ bán cho khách hàng. Kaskawits nói: "Chúng tôi muốn tạo ưu thế hơn hẳn cho khách hàng. Họ sẽ không phải tìm kiếm lâu. Bí quyết thành công của chúng tôi là biết tìm đúng thị trường khe, tạo sự khác biệt, và làm tốt hơn bất cứ đối thủ nào".
Nói tóm lại, cơ hội kinh doanh trên mạng vẫn còn rất nhiều tiềm năng. Các doanh nghiệp cần biết phân tích nhu cầu thị trường và tìm ra những lợi thế so sánh của mình để đáp ứng tốt nhất đối với một phân khúc thị trường nhất định. Kinh doanh qua mạng, như người ta vẫn nói, là kinh doanh dựa vào sự vào sự thông minh, hiểu biết và nhiều ý tưởng. Điều này càng đúng với các doanh nghiệp nhỏ, những công ty mới khởi nghiệp kinh doanh qua mạng.
< Theo Saga >
Đọc thêm »

Thứ Hai, 25 tháng 7, 2011

Quảng cáo "chơi dao": Phúc họa khó lường

Khi quảng cáo đang trở nên thừa mứa với người tiêu dùng thì đòi hỏi về những ý tưởng càng trở nên khắt khe. Có những ý tưởng tạo hiệu quả tức thì, ngược lại cũng có không ít mẩu quảng cáo khiến "chủ nhân" khốn đốn.

"Cuộc chiến" mỳ gói mới đây nhất giữa 2 "đại gia" thực phẩm Acecook VN và Masan vẫn đang là tâm điểm khi các thông tin trái chiều về phẩm màu thực phẩm E102 đang khiến người tiêu dùng (NTD) hoang mang.
Mới đây nhất, hai cơ quan của Bộ Y tế là Cục ATVSTP (Bộ Y tế) và Ủy ban Tiêu chuẩn thực phẩm VN (Codex VN) đều khẳng định E102 vẫn có tên trong danh mục phụ gia thực phẩm và an toàn nếu sử dụng ở mức độ cho phép. Song "sức nóng" của mẩu quảng cáo mỳ cộng với những thông tin ngược chiều mà các Hội, cựu quan chức ngành y tế hay các doanh nghiệp đưa ra vẫn khiến không ít NTD hoang mang khi lựa chọn mỳ.
Ngoài nỗi lo lắng của NTD, các DN ngành mỳ cũng không kém phần bức xúc khi Cục Quản lý Cạnh tranh (Bộ Công thương) vẫn chưa có động thái nào phân xử cho khiếu nại về cạnh tranh không lành mạnh.
Theo một đại diện của Acecook VN, sau mẩu quảng cáo mà họ cho là "cung cấp nhận thức sai" cho NTD đó, Acecook VN đã phải có nhiều động thái từ khuyến mãi đến yêu cầu các đại lý đưa ra căn cứ nhằm trấn an người tiêu dùng để hạn chế ảnh hưởng doanh số.
Chính Masan, mặc dù chưa có con số thống kê độc lập nào cho thấy tác động của mẩu quảng cáo lùm xùm này tới doanh số bán ra, song cũng bị không ít NTD tuyên bố tẩy chay sau khi phát hiện các sản phẩm mỳ khác của Masan cũng sử dụng E102, phụ gia mà họ cho là "độc hại", điển hình là mỳ Omachi hay Tiến Vua loại ghi không có transfat.
"Điều nguy hiểm nhất chính là quảng cáo của Masan có thể khiến cả ngành mỳ bị ảnh hưởng, và NTD được cung cấp một nhận thức sai. Hiện ở Việt Nam cả Ủy ban Codex và Cục VSATTP đều khẳng định E102 là an toàn, được phép sử dụng trong ngưỡng, do đó không có lý gì một DN đưa ra thông điệp rằng E102 có hại", đại diện Acecook cho biết.
Cũng trong tháng 6/2011, một quảng cáo khác bị "tuýt còi". Đó là chuyện của Công ty Cổ phần G&P Mama sữa non. Công ty này bị Sở Y tế Hà Nội xử phạt 7 triệu đồng vì "dám" quảng cáo bằng cách so sánh tính năng với... sữa mẹ. 

Sau lần "chơi dao đứt tay" này, "Mama sữa non" vẫn loay hoay tìm niềm tin bằng nhiều kênh thông tin nhưng dường như để trở lại với xuất phát điểm cũng là một thách thức lớn khi NTD đã trở nên cảnh giác hơn rất nhiều.
Trước đó, cũng liên quan đến ngành mỳ, mẩu quảng cáo Mỳ khoai Tây Omachi cũng "nói như đúng rồi" rằng ăn mỳ khoai tây không lo bị nóng. Tuy nhiên, trong thành phần ghi sau gói mỳ cho thấy khoai tây chỉ chiếm tỷ lệ 10g/1kg, tương đương... 1%.

Thành phần chính của "mỳ khoai tây" Omachi vẫn là bột mỳ như mọi loại mỳ khác (và có cả E102, nhưng không ghi rõ tỷ lệ bao nhiêu), nên khiến người tiêu dùng tự hỏi không biết 1% khoai tây trong Omachi có phải là "thánh dược" để giúp loại mì này không gây nóng và không "độc hại"?
Theo nhiều chuyên gia quảng cáo, các mẩu quảng cáo đánh vào tâm lý hoặc nỗi sợ hãi của NTD đang khá "thịnh" ở VN. Tuy nhiên, họ cũng nói rằng đây là con dao hai lưỡi vì chính các DN lắm lúc phải trả giá cho các mẩu quảng cáo của mình.
Theo ông Trần Tấn Minh, Trưởng phòng Marketing của một DN sản xuất hàng tiêu dùng: "Ngày nay khi NTD ngày càng thông thái và có xu hướng "ngộp thở" với quảng cáo, việc vận dụng lý thuyết cũ để tạo ra các ý tưởng mới mẻ càng trở nên sống còn".
Ông Minh cũng thừa nhận xu hướng quảng cáo đánh vào tâm lý, nỗi lo lắng hay bức xúc của NTD đang được nhiều DN trong nước vận dụng. "Các mẩu quảng cáo đó đều gây hiệu ứng lớn, song xét cho cùng thì cái đích cuối cùng là doanh số sản phẩm, hình ảnh thương hiệu có đạt được hay không vẫn nằm ở chính giá trị của sản phẩm và sự trung thực với NTD", ông Minh đánh giá.
< Theo Dantri.com.vn >
Đọc thêm »

Chủ Nhật, 24 tháng 7, 2011

Bỗng nhiên 'giàu sụ' từ những ý tưởng... lãng xẹt

solgan- life is good
Không cần quá xuất sắc như Bill Gates, Larry Ellison, Steve Jobs hay Mark Zuckerberg, nhiều người vẫn có thể thu về hàng trăm triệu USD nhờ ý tưởng bất chợt từ những câu chuyện nhỏ nhặt trong đời sống hàng ngày. 
"Cuộc sống tươi đẹp"
Công ty bán hàng ngoài trời có trụ sở tại New England cho dán thông điệp lạc quan này lên tất cả các sản phẩm áo phông, bao tay đánh bóng chày và nhiều loại đồ dùng khác.
Chính nhờ khẩu hiệu này mà các sản phẩm của họ được khách hàng đón nhận và đem về con số doanh thu lên tới 24 triệu USD mỗi năm, một con số làm kinh ngạc giới kinh doanh trên toàn thế giới.
Hai nhà sáng lập của “Cuộc sống tươi đẹp” là Bert, 40 tuổi và John Jacob, 36 tuổi. Hai anh em vẫn nhớ khoảng thời gian trước đây, khi thần tài chưa mỉm cười với họ và cuộc sống còn đầy khó khăn. Năm 1994, khi tài khoản ngân hàng của họ chỉ có 78 USD, Bert và John từng phải sống tạm trong một chiếc xe tải thay cho ngôi nhà của mình, chào bán áo phông tới từng trường học, công sở và theo dõi kỹ càng từng đồng xu tiêu đi. Có lần, họ còn bị cảnh sát địa phương đuổi khỏi các khu chợ tạm họp trên đường phố.
Mọi việc bắt đầu thay đổi theo hướng tốt đẹp khi hai anh em xem một bộ phim hoạt hình có nhân vật Jake. Hai người bỗng nảy ra ý tưởng in ảnh nhân vật này kèm với khẩu hiệu "Cuộc sống tươi đẹp" lên các sản phẩm của mình.
Khi những chiếc áo có hình ảnh lạc quan này được khách hàng đón nhận nhiệt tình, anh em Jacob hiểu rằng họ đã dò đúng mỏ vàng. Quả thực, doanh số bán hàng của họ tăng không ngừng. Riêng năm 2010, doanh thu của họ lên tới 100 triệu USD.

Chiếc quần bó Spanx
Sara Blakely là một nữ doanh nhân có khẩu khí mềm mỏng nhưng ý chí sắt đá. Vào những năm 1990, chị đã có 7 năm ròng làm việc bán máy fax. Không chịu nổi áp lực công việc, có nhiều khi chị bật khóc lúc gặp khách hàng tiềm năng phải chạy xe lòng vòng để định thần lại, rồi mới có thể tiếp tục làm việc.
Vào một tối năm 1998, Blakely không hài lòng với trang phục và thử cắt bỏ phần chân của đôi tất da phụ nữ và ý tưởng Spanx ra đời. Với số tiền tiết kiệm 5.000 USD, Blakely nghiên cứu và xin cấp bằng sáng chế cho chiếc chiếc tất quần không chân. Sau đó, chị đi khắp bang Bắc Carolina để đề nghị chủ các nhà máy sản xuất sản phẩm cho chị. Tuy nhiên, hầu hết các chủ xưởng đều lắc đầu và cho rằng sản phẩm kỳ quái này sẽ không được người tiêu dùng chấp nhận.
quần bó sát, quần tất

Cuối cùng, một chủ xưởng quyết định cho cô cơ hội để biến “ý tưởng điên rồ” này thành hiện thực. Và quả thực, ý tưởng này đem đến thành công ngoài mong đợi. Trong ba tháng đầu tiên, chị đã bán được hơn 50.000 sản phẩm.
Và hai năm sau, Spanx Inc. ra đời, sản xuất hơn 200 loại trang phục ôm sát cơ thể, mà nổi trội là Mama Spanx, ôm sát cơ thể từ bụng xuống chân phụ nữ mang thai, đồ bơi và mới đây nhất là Spanx for Men.
Ngày nay, Spanx có doanh số bán lẻ tới 350 triệu USD với 105 nhân viên, cung cấp hàng cho 10.000 tiệm bán lẻ khắp thế giới.
“Từ lâu rồi tôi đã chuẩn bị tinh thần đến ngày nào đó mình có thể làm chủ doanh nghiệp. Vậy nên giây phút tôi cắt đi phần bàn chân của đối tất da và nhìn mình mặc nó trong gương thì tôi nhận ra đó là dấu hiệu cơ hội tôi mong chờ bấy lâu đã đến”, Blakely chia sẻ.
Hãng dọn rác 1-800-Got-Junk
Mùa hè năm 1989, anh sinh viên Brian Scudamore đang xếp hàng chờ lấy bánh tại khu vực phục vụ dành cho khách đi xe hơi của McDonald thì một chiếc xe tải nhỏ đập vào mắt anh. Lấy cảm hứng từ chiếc xe này, Scudamore mua một chiếc xe tải cũ với giá 700 USD để bắt đầu dịch vụ thu dọn phế phẩm cho các gia đình trong vùng Vancouver - một nhu cầu mà anh nhận thấy ngay chính trong gia đình mình cũng như trong những gia đình quen biết. 
dọn vệ sinh, môi trường,Brian Scudamore, 1-800-Got-Junk

Với nỗ lực, Brian dần dần tạo được uy tín cho tên tuổi của dịch vụ The Rubbish Boys của mình. Say mê với công việc do chính mình tạo thành, Brian Scudamore quyết định nghỉ học cho dù cha anh không đồng lòng.
Công việc làm ăn của anh phát triển vào năm 1997 khi anh đã có trong tay 6 xe dọn rác ở Vancouver và hai chiếc ở bang Victoria. Năm 1998, anh đổi tên công ty thành 1-800-Got-Junk và một năm sau đó anh mở chi nhánh đầu tiên ở Canada. Hiện anh có nhiều đại lý ở khắp khu vực Bắc Mỹ và Australia với doanh thu lên tới 105 triệu USD.
Gối ôm hình thú cưng
Thấy cậu con trai cố đè những con thú nhồi bông xuống giường để gối, cô Jennifer Telfer bỗng nảy ra ý tưởng “biến hóa” thú bông thành gối ôm.

Năm 2003, cô Telfer cùng chồng quyết định sản xuất sản phẩm gối ôm hình con thú này và đem bán trên danh nghĩa công ty CJ Products có sẵn của mình. 
 thú ôm, gối ôm,Jennifer  Telfer,CJ Products

Sản phẩm sáng tạo của Telfer được khách hàng tại các shop trong trung tâm thương mại rất ưa chuộng và sau đó tạo nên làn sóng gối ôm hình thú cưng trên khắp thế giới. Năm 2010, những con thú nhồi bông kiêm gối ôm này mang về cho chủ nhân của nó tới 300 triệu USD.
Bia Boston
Dù có truyền thống kinh doanh bia từ thời cha ông nhưng khi các hãng bia sản xuất đại tra, Jim Koch quyết định từ bỏ nghề này. Năm 1984, Koch thấy rằng mọi người bắt đầu đòi hỏi một thứ gì đó khác biệt. Vì thế, anh lại bỏ công việc tư vấn quản lý, tìm lại công thức nấu bia của ông cố nội và bắt đầu nấu thử trong bếp gia đình.
 rượu gia truyền,Jim Koch, Samuel Adams Boston Beer Lager

Sau khi hoàn thành mẫu bia thử nghiệm, ông tới từng quán bar ở thành phố Boston để bán sản phẩm mang tên Samuel Adams Boston Beer Lager này. Công ty của ông hiện là nhà sản xuất bia thủ công lớn nhất, với hơn 30 loại bia khác nhau. Công ty còn giành được vô số giải thưởng quốc tế, nhiều hơn bất cứ sản phẩm bia nào trên thế giới. Doanh thu ròng của công ty trong quý 1/2011 đạt 102,2 triệu USD.
Hãng sản phẩm lau rửa Method
Ý tưởng về sản phẩm lau nhà thân thiện với môi trường đến với Adam Lowry và Eric Ryan khi họ sống cùng với nhau trong một căn hộ ở San Francisco. Họ để ý rằng, mỗi lần dọn nhà sau tiệc tùng, các chất tẩy rửa thường khiến họ bị ho. 
 nước lau nhà, method, thân thiện với môi trường

Khi đó thực sự không có nhiều lựa chọn, phần lớn các sản phẩm lau rửa nhà đều chứa các hóa chất độc hại. Vì thế, Lowry và Ryan cùng nhau nghiên cứu và đưa ra Method vào năm 2000. Đây là một sản phẩm chăm sóc nhà cửa thân thiện với môi trường. 10 năm sau đó, các sản phẩm của họ được bày bán trên các kệ hàng khắp nước Mỹ và đem về doanh thu tới 100 triệu USD.

<  Đất Việt (Theo CNBC) >




Đọc thêm »

Thứ Bảy, 23 tháng 7, 2011

Sáng tác logo, slogan du lịch không phải thi vẽ, thi viết.

logo- slogan du lich vietnam

Nếu người sáng tác không hiểu biết một cách tường tận chiến lược phát triển du lịch, định vị sản phẩm và thương hiệu du lịch cụ thể, có chiều sâu thì cuộc thi sáng tác biểu tượng, khẩu hiệu du lịch rất dễ biến thành một cuộc thi vẽ cái mình chưa biết rõ, thi viết về cái mình chưa hiểu tốt. 

LTS: Ngay sau khi Bộ Văn hoá - Thể thao & Du lịch thông báo không sử dụng logo ngôi sao ngũ sắc và slogan "Sự khác biệt Á Đông" cho du lịch Việt Nam giai đoạn tới, TS. Lương Hoài Nam, Nguyên PCT Hiệp hội Du lịch Việt Nam, đã gửi tới Diễn đàn Kinh tế Việt Nam bài viết về câu chuyện đi tìm biểu trưng và tiêu đề cho ngành du lịch.

Vẽ cái mình chưa rõ, viết cái mình chưa hiểu?
Bộ trưởng VH-TT-DL Hoàng Tuấn Anh đã có một quyết định đầy trách nhiệm khi chưa phê duyệt việc lấy giải nhất trong cuộc thi sáng tác vừa qua làm biểu tượng và khẩu hiệu chính thức của Du lịch Việt Nam. Không đi sâu vào các ý kiến đa chiều về ý nghĩa của biểu tượng ngôi sao nhiều màu và khẩu hiệu "Việt Nam - Sự khác biệt Á Đông", người viết bài này cho rằng việc sử dụng một biểu tượng tốn đến nửa hộp bút màu mới thể hiện được là chưa phù hợp với xu thế làm thương hiệu hiện đại.
Cách chọn biểu tượng, khẩu hiệu du lịch của ngành du lịch Việt Nam thông qua các cuộc thi sáng tác biểu tượng, khẩu hiệu rất khó mang lại kết quả tốt. Biểu tượng, khẩu hiệu du lịch phải xuất phát từ một chiến lược phát triển du lịch, định vị sản phẩm và thương hiệu du lịch cụ thể, có chiều sâu. Nếu người sáng tác không hiểu biết một cách tường tận những nội dung này thì cuộc thi sáng tác biểu tượng, khẩu hiệu du lịch rất dễ biến thành một cuộc thi vẽ cái mình chưa biết rõ, thi viết về cái mình chưa hiểu tốt.
Khác với bức tranh, một biểu tượng tốt không phải là biểu tượng xem đẹp mắt mà là biểu tượng hiệu quả (ấn tượng, dễ nhận biết, dễ nhớ, dễ liên tưởng đến những giá trị người ta muốn nó thể hiện, dễ sử dụng). Tương tự, khẩu hiệu tốt không phải là khẩu hiệu nghe hay mà là khẩu hiệu hiệu quả. Để đạt được tính hiệu quả trong việc xây dựng biểu tượng và khẩu hiệu, người thực hiện cần phải phối hợp chặt chẽ với những chuyên gia trong ngành du lịch trong cả quá trình tìm tòi, sáng tác, thử nghiệm, điều chỉnh và hoàn thiện.
Vietnam Airlines mất 10 năm (từ 1993 đến 2003) kiên trì hợp tác với hãng Boeing (Mỹ, tài trợ dự án), công ty quảng cáo Perk Communications (Mỹ) và họa sỹ thiết kế Victor Kubo (người Mỹ gốc Nhật Bản) để có được biểu tượng Bông Sen Vàng được sử dụng từ năm 2003 đến nay. Nếu tới đây Hoa Sen được lựa chọn làm Quốc Hoa, biểu tượng Bông Sen Vàng của Vietnam Airlines có thể sẽ sống mãi.
Không kỳ công như Vietnam Airlines, nhưng Viettel cũng đã có một biểu tượng và khẩu hiệu "Hãy nói theo cách của bạn" rất thành công. Viettel không tổ chức cuộc thi sáng tác nào. Theo ông Nguyễn Mạnh Hùng, Phó TGĐ Viettel, kể lại thì ông và các đồng nghiệp ở Viettel khi đó có chung một suy nghĩ là "phải thuê một công ty nước ngoài có nhiều kinh nghiệm về thương hiệu để làm". Với quyết định đó, Viettel đã thuê JW Thomson (JWT) - một công ty quảng cáo nước ngoài lớn cho công việc quan trọng này.
Một trong các lý do mà Bộ VH-TT-DL không phê duyệt biểu tượng và khẩu hiệu du lịch lần này là "chỉ có 50-60% người được trưng cầu ý kiến ủng hộ". Nếu vào năm 2003 Vietnam Airlines tổ chức lấy ý kiến rộng rãi thì số người ủng hộ Bông Sen Vàng chưa chắc đạt quá bán do nhiều người (kể cả lãnh đạo nhà nước) đã quá quen và thân thiện với biểu tượng Con Cò được sử dụng từ năm 1990. Đối với một cái mới, số đông chưa chắc đã đúng.
Vấn đề quan trọng là các doanh nghiệp như Vietnam Airlines, Viettel đã hình dung được rõ ràng những giá trị dịch vụ mà họ muốn biểu tượng, khẩu hiệu truyền đạt một cách hiệu quả nhất. Họ kiên trì theo đuổi, tạo ra những giá trị dịch vụ đó, đồng thời thực hiện các chương trình thương hiệu chuyên nghiệp.
Khi chọn khẩu hiệu "Hãy nói theo cách của bạn", Viettel muốn thể hiện giá trị dịch vụ ở việc tôn trọng khách hàng hơn (so với các "ông độc quyền" thuộc VNPT trước khi có Viettel). Những người làm ở Viettel phải thấm nhuần yêu cầu đó, khách hàng của Viettel phải cảm nhận được giá trị dịch vụ đó. Công bằng mà nói, Viettel đã làm rất tốt.
Từ cái nền tới câu chuyện hoàn chỉnh
Trở lại với biểu tượng, khẩu hiệu du lịch, sẽ là sai lầm nếu yêu cầu chúng phải thể hiện được "thế mạnh là du lịch biển, du lịch sinh thái và văn hóa, đối tượng thu hút chính là du khách quốc tế nghỉ dưỡng dài ngày, chi nhiều tiền" như tiêu chí của cuộc thi. Không biểu tượng, khẩu hiệu nào có thể "nói" và "làm" được nhiều thứ như thế. Biểu tượng, khẩu hiệu trong hoạt động thương hiệu mới chỉ là cái nền để trên đó xây dựng các câu chuyện thương hiệu, trong khi đó những người ra đầu bài ở ngành du lịch lại đòi hỏi bản thân chúng phải là những câu chuyện hoàn chỉnh, có đầu có đuôi.
Cái nền khi Vietnam Airlines chọn Bông Sen Vàng là "vẻ đẹp cao sang mang tính nhân văn sâu sắc", trên đó Vietnam Airlines xây dựng nhiều câu chuyện dịch vụ cao sang khác nhau cho các đối tượng hành khách đi máy bay khác nhau. Cái nền khi Viettel chọn "Hãy nói theo cách của bạn" là "đi ngược lại truyền thống (độc quyền)", trên đó Viettel xây dựng nhiều câu chuyện chống độc quyền về sự đa dạng các dịch vụ để khách hàng lựa chọn, các gói giá cước rẻ, hệ thống chăm sóc khách hàng "đối thoại hai chiều" đồ sộ, chuyên nghiệp.
Không nên có một biểu tượng mà chỉ có những người làm du lịch biển, du lịch sinh thái, du lịch văn hóa phấn khởi (vì nhìn thấy mình "rõ mồn một" trong đó), còn những người làm du lịch hội nghị, hội thảo (MICE) lại tủi thân (vì không nhìn thấy mình ở đâu). Nên có một biểu tượng mà mọi loại hình du lịch đều có thể lấy nó làm nền để xây dựng câu chuyện thương hiệu của mình. Bản thân các doanh nghiệp du lịch đều có biểu tượng, khẩu hiệu riêng, cái mà họ cần ở biểu tượng, khẩu hiệu du lịch quốc gia là chúng thể hiện các giá trị dịch vụ du lịch chung, nổi trội và "hút khách" của Việt Nam.
Thái Lan chọn cảm xúc du lịch "Ngạc nhiên chưa! (Amazing)" làm khẩu hiệu, người nào muốn ngạc nhiên (ai mà không muốn chứ!) thì hãy đến Thái Lan. Còn các doanh nghiệp ở đây thuộc loại hình du lịch nào thì cũng đều cố gắng mang lại cho du khách cảm giác "ngạc nhiên (tốt)". Philippines chọn cảm xúc du lịch "Ôi chao ôi! (Wow)" cũng theo cách tiếp cận này. Vậy nên, nếu một ngày nào đó ngành du lịch của ta chọn "Vui vẻ chưa!" làm khẩu hiệu thì điều này không có gì là dở nếu như các doanh nghiệp du lịch Việt Nam, dù thuộc loại hình nào, cũng đều làm cho du khách thực sự vui vẻ một cách lành mạnh.
Tạm kết
Người viết bài này không đề xuất tiếp tục thi sáng tác biểu tượng, khẩu hiệu du lịch. Cách này đã được sử dụng trong những năm qua nhưng chưa mang lại kết quả thỏa mãn. Nên thử nghiệm cách làm mới. Nên lựa chọn một công ty chuyên nghiệp về thương hiệu cùng Tổng cục Du lịch xây dựng Chương trình thương hiệu tổng thể (không phải chỉ là biểu tượng và khẩu hiệu).
Nếu trong những năm tới trọng tâm của Du lịch Việt Nam nhằm vào du khách nước ngoài thì nên sử dụng công ty nước ngoài. Trong quá trình lựa chọn đối tác, đừng yêu cầu biểu tượng phải là ngôi sao, bông sen, cây tre, cái nón..., chỉ yêu cầu họ giới thiệu kinh nghiệm xây dựng, định vị thương hiệu và trình bày phương pháp tiếp cận đối với chương trình thương hiệu của du lịch Việt Nam, nguồn lực thực hiện, tiến độ, ngân sách, cơ chế phối hợp...
Sau khi lựa chọn đối tác, cần đặt niềm tin vào họ và phối hợp, hỗ trợ tối đa. Hy vọng cách làm này sẽ mang lại kết quả tốt hơn cách làm cũ. Nếu chẳng may cuối cùng không đạt được như kỳ vọng thì cũng không nên nặng nề vì tình huống này không phải là hiếm trong lĩnh vực thương hiệu.

TS. LƯƠNG HOÀI NAM (Vef.vn).
Đọc thêm »

Thứ Sáu, 22 tháng 7, 2011

Trào lưu kinh doanh tự cho mình là nhất

Không qua bất kỳ cuộc khảo sát hay bình chọn nào của người tiêu dùng và cơ quan giám định, nhiều cửa hàng, doanh nghiệp ở Hà Nội vẫn tự phong cho mình ngôi vị nhất trên các phương diện khác nhau.  

 Ngày càng nhiều cửa hàng treo băng rôn quảng cáo khẳng định ngôi vị nhất như rẻ nhất, tốt nhất, đa dạng nhất, nhanh nhất...Việc các đơn vị kinh doanh tranh nhau nhận mình là nhất khiến người tiêu dùng băn khoăn, không biết nên tin đâu mới thực sự là vị trí số một. 

 Một cửa hàng thời trang nhỏ có diện tích chỉ khoảng 30 mét vuông trên phố Trần Hưng Đạo mà chiếm lĩnh đến 3 chữ nhất. Nhân viên bán hàng ở đây cho hay, họ tự thấy sản phẩm có những đặc điểm đó thì trưng biển vậy chứ không cần qua cuộc bình chọn nào cả.

Chỉ riêng trên đường Cầu Giấy đã có gần 5 cửa hàng "khẳng định" mình là nhất. "Rẻ nhất", "Tốt nhất" trở thành khẩu hiệu phổ biến mà các cửa hàng đồng loạt áp dụng để câu khách giữa thời giá cả leo thang.

 Nhiều loại mặt hàng đều được giới kinh doanh gắn với ngôi vị nhất như thời trang, hàng công nghệ...nhưng nhiều nhất các cửa hàng sim thẻ.

 

"Trong khi giá cả cái gì cũng tăng như hiện nay thì điều khiến người tiêu dùng quan tâm nhất là chi phí. Do vậy, những sản phẩm rẻ nhất sẽ lôi cuốn được nhiều khách hàng", một chủ cửa hàng theo trào lưu này lý giải.

 Tuy nhiên, giá cả biến đổi từng ngày nên rất khó để một đia chỉ có thể bán hàng rẻ nhất mãi mãi. Gắn biển "SIm rẻ nhất", song mức giá bán 40.000 đồng mỗi chiếc sim Viettel, tài khoản 115.000 đồng của cửa hàng này còn đắt hơn ở một vài nơi khác. Hiện nay, nhiều địa chỉ kinh doanh loại sim này chỉ được bán với giá 35.000-38.000 đồng.

 Cửa hàng kinh doanh kính mắt trên phố Bà Triệu còn không ngần ngại khẳng định đẳng cấp là hàng đầu thế giới, là số một Việt Nam.

 Không chỉ về giá cả, chất lượng cũng được các doanh nghiệp quan tâm để khẳng định mình là số một. Giữa nhan nhản danh hiệu nhất mà các cửa hàng tự phong, nhiều nơi đã chuyển hóa thành cụm từ mang nghĩa tương đương để tạo điểm nhấn.

 Theo giới đầu tư kinh doanh, khuyến mãi cũng chỉ theo một tỷ lệ nhất định nên vẫn có nơi giảm giá nhiều hay ít. Còn những lời khẳng định mang tính chốt hạ như vậy sẽ dễ thu hút khách hàng hơn. Tuy nhiên, nhiều người tiêu dùng lại cho rằng việc các cửa hàng tự phong ngôi vị cho mình mà không có chứng thực của cơ quan chức năng thì điều đó chưa có giá trị tạo niềm tin cho họ.

< Theo VnExpress.Net >


Đọc thêm »

Thứ Năm, 21 tháng 7, 2011

Apple móc túi người dùng bằng cách nào?

Các tín đồ của Táo khuyết vẫn tiếp tục mê mẩn mỗi khi Apple cho ra đời 1 sản phẩm mới, nhưng ít ai biết rằng, Apple đang bòn rút túi tiền của khách hàng một cách hiệu quả.

Moi tiền bằng dịch vụ gia tăng

Có thể bạn chỉ biết tới Apple như 1 công ty chuyên bán các iDevices bóng bẩy hoặc những chiếc Macbook, Macbook Pro, iMac có giá "khét lẹt". Tuy nhiên chính vì sự nổi trội của mảng phần cứng mà các sản phẩm phần mềm và nội dung số của Apple lại ít được chú ý hơn. Mặc dù ít được chú ý, tuy nhiên việc cung cấp nhạc số trên iTunes Store cũng đem lại cho Apple 1.34 tỉ USD và lợi nhuận từ bán ứng dụng trên AppStore đem lại 786 triệu USD riêng chỉ trong quí 2 năm 2011.

Tuy nhiên theo nhận định của nhiều chuyên gia, tỉ suất lợi nhuận của việc kinh doanh từ iTunes Store và AppStore cũng không thực sự lớn, nhất là việc bán ứng dụng chỉ vượt qua con số 14% đôi chút. Như vậy là còn thấp hơn rất nhiều so với tỉ suất lợi nhuận của Apple là 24%.
Mặc dù đang ăn chia 3/7 với các bên phát triển ứng dụng, nhưng Apple chỉ nhận khoảng 14% trong 30% thu được. Nếu nhân với số tiền 2.6 tỉ USD mà Apple tuyên bố đã trả cho lập trình viên thì lợi nhuận từ AppStore cũng không thực sự lớn.


Vấn đề là ở chỗ iTunes Store, AppStore của Apple tuy không phải là công cụ để Steve Jobs hành nghề "2 ngón" với túi tiền của khách hàng, nhưng chính chúng lại là một chiêu bài câu khách và giữ khách cực kỳ hiệu quả của Táo khuyết. Sử dụng iPod không dám đổi sang Zune hoặc các máy nghe nhạc khác vì thư viện nhạc số trên iTunes đã vượt xa giá tiền mua 1 chiếc iPod mới, hoặc tôi từng quen biết một anh bạn sẵn sàng chuyển từ Android sang iPhone chỉ vì thư viện game của AppStore quá hấp dẫn.
Apple không đặt nặng việc kiếm tiền bằng bán dịch vụ từ AppStore cũng như iTunes Store mà sử dụng chúng như những "cần câu khách".

Thêm vào đó, các dịch vụ kèm thêm sản phẩm của Apple như Apple Care (1 dạng dịch vụ mở rộng thời gian bảo hành) hoặc bắt người sử dụng thay thế linh kiện ngoài chế độ bảo hành đều có giá cắt cổ. Thậm chí ở AppStore, nhân viên bán hàng được dạy 1 chân lý bất di bất dịch: Có thể không định mức bán sản phẩm, nhưng cần định mức bán được dịch vụ đi kèm sản phẩm.

"Chặt chém" khách hàng với các iDevices


Nếu bạn luôn cảm thấy rằng các sản phẩm của Apple bán ra quá đắt so với những thiết bị có cùng cấu hình, chức năng thì đây chính là câu trả lời dành cho bạn: sự thực đúng là như thế.
Chi phí sản xuất 1 chiếc iPad thấp hơn nhiều so với giá Apple bán ra.


Với chiếc HP TouchPad 16 GB vừa mới ra mắt của HP sau khi được các chuyên gia tháo rời linh kiện và định giá thì được cho là sử dụng các linh kiện có giá khoảng 306.9 USD và được bán với giá 499 USD. Cộng với 10$ (giả định) và chi phí sản xuất

Có thể thấy 1 chiếc TouchPad 16 GB sẽ có mất khoảng 317 USD sản xuất (chưa tính phí marketing, nghiên cứu phát triển và các thành phần "râu ria" khác). Như vậy với mỗi chiếc TouchPad xuất xưởng, HP chỉ có thể đút túi 182 USD tương đương với khoảng 36.5 % lợi nhuận/giá bán. Thực tế nếu trừ chi phí phát triển, marketing và các khâu khác chắc chắn con số đó sẽ giảm đi rất nhiều và gần hơn với tỉ suất lợi nhuận trung bình 7.27% ước tính của HP.

Trong khi đó, 1 chiếc tablet tương tự TouchPad là iPad 1 bản 16 GB có chi phí linh kiện chỉ khoảng 219$, cộng với 10$ chi phí sản xuất chúng ta sẽ thấy tỉ suất lợi nhuận trên mỗi chiếc iPad xuất xưởng sẽ là 49%.

Đây chính là nguồn gốc của giá cả cắt cổ mà các iDevices bắt người mua phải trả. Và tồi tệ hơn nữa là các phiên bản có cấu hình càng cao thì Apple lại "móc túi" người sử dụng càng nhiều. Với phiên bản có cấu hình cao nhất 64GB Wifi + 3G, Apple chỉ mất 346.15$ cho mỗi thiết bị xuất xưởng như lại bán tới 829$ một máy (58.2% lợi nhuận).

Những người anh em của nó như iPhone, iPod còn giúp Apple "bòn rút" của người sử dụng hơn thế rất nhiều: iPhone 4 16GB được xác định có giá linh kiện chỉ vào mức 188$ trong khi giá bán phiên bản mở mạng là 600$ (68.7%). Hoặc như chiếc iPod Nano ước tính chỉ mất 49$ cho quá trình sản xuất nhưng lại được bán với giá lên đến 179$ (72.62%).

Đặt cược vào thiết bị cầm tay


Trong khi các thiết bị cầm tay đang chiếm tới 65% doanh số bán hàng của Apple, thì các thiết bị chạy Mac OS X như Macbook Pro, iMac... lại chỉ nắm giữ 1 tỉ lệ khiêm tốn: 20%.
Các thiết bị chạy iOS đang dần lấn át dòng PC chạy Mac OS X truyền thống của Apple trong doanh số, bất chấp việc 1 chiếc laptop hay desktop thường có giá bán cao hơn nhiều so với 1 iDevices.

Sự đổi chiều trong chiến lược kinh doanh của Apple có thể được giải thích như sau: Mac OS X khó lòng đá ngã nổi Windows. Đây là một sự thực không thể chối cãi. Nền tảng của Microsoft hiện vẫn nắm giữ đến gần 90% thị phần hệ điều hành dành cho máy tính cá nhân.

Dù máy tính chạy Mac OS rõ ràng đang có sự tăng trưởng ấn tượng, tuy nhiên ngày mà Mac có thể thay thế Windows có lẽ sẽ không bao giờ đến.

Nếu giá của máy tính chạy Mac quá cao so với các hãng khác, đa số người sử dụng sẽ lập tức quay lưng lại với Mac và trở về với "vòng tay" của Microsoft vì đơn giản là vì những gì mà máy chạy Mac có thể làm được thì PC dùng Windows cũng có thể, điều ngược lại chưa chắc đúng.

Nói 1 cách ngắn gọn, áp lực của Mac OS X không đủ để bắt người dùng ngoan ngoãn móc túi. Nhưng các iDevices thì lại khác. AppStore hiện tại vẫn chưa tìm được đối thủ, thiết kế của các iPhone vẫn là độc nhất vô nhị, sự ổn định của iOS vẫn còn khiến các smartphone Android còn phải đuổi theo dài dài...

Kết quả có thể nhận thấy rõ ràng, chỉ sau có 4 năm kể từ ngày iDevices đầu tiên ra mắt (iPhone ra đời năm 2007), Apple đã đi lên từ chỗ chỉ kinh doanh máy nghe nhạc và PC đã bước lên vị trí nhà sản xuất smartphone và tablet hàng đầu thế giới.
< Theo vietnamnet.vn - tổng hợp từ tinhte >
Đọc thêm »